- Tranh chấp gì? án hình sự — "104.Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Bộ luật hình sự năm 1999) - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gâ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:45/2017/HS-ST Ngày: 22/11/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông N uy n Xuân H
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lƣu T - Nguyên hiệu trưởng trường tiểu học số 3 thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G.
2. Ông Lƣơn Nam Xuất T - Trưởng phòng Dân tộc huyện Đ, tỉnh G.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Q, cán bộ Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Q - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2017 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2017/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2017 ối v i các bị cáo:
Bị cáo thứ nhất: N uy n Văn A - Tên khác: Không; Sinh năm 1993 tại: Tiên Phư c, Quảng Nam;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G; Nghề nghiệp: Làm nông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình ộ văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Đức N, Sinh năm: 1965; Con bà: Nguyễn Thị P, Sinh năm: 1968; Hiện cha, mẹ ang sinh sống tại Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G; Gia ình bị cáo có 06 anh, chị em, l n nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000; bị can là con thứ hai trong gia ình; Có vợ: Trần Thị Thu T, sinh năm 1994. Hiện sinh sống tại Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G;bị cáo có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2016 cho ến nay. Hiện bị cáo ang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh G; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ hai: N uy n Văn Đ; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1992 tại: Tiên Phư c, Quảng Nam;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G;Nghề nghiệp: Làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình ộ văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Đức N, sinh năm: 1965; con bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1968; Hiện cha, mẹ ang sinh sống tại Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G; Gia ình bị cáo có 05 anh, chị em, l n nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000; bị cáo là con thứ nhất trong gia ình; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2016 cho ến nay; Hiện bị cáo ang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh G.
* Người bị hại: Anh Trƣơn Sỹ B – sinh năm: 2000
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G.
Có mặt tại phiên tòa.
* Đại diện hợp pháp cho người bị hại: Bà N ô Thị H
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G.
Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông N uy n Đức N – sinh năm: 1965
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G
Có mặt tại phiên tòa.
N uy n Văn M – sinh năm: 2000
Trú tại: Làng T, x G, huyện Đ, tỉnh G
Vắng có lý do
* Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà N uy n Thị M
Trú tại: Làng T, x G, huyện Đ, tỉnh G
Vắng có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diên biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
1. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Vào khoảng 19h30’ ngày 04/9/2016, Nguyễn Văn A, trú tại Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh G i xem văn nghệ tại trường Trung học cơ sở L Q Đ, xã T thì gặp Nguyễn Văn H, trú cùng thôn, thì H nói “Anh làm gì mà anh em nhà thằng B tìm anh ánh”, A không trả lời mà i bộ về nhà của mình tại thôn T, xã T lấy 01(một) cái rựa rồi i bộ ra ngoài ường, gọi iện cho anh trai mình tên Nguyễn Văn Đ nói “về nhà chở ra T giúp tý” thì Đ ồng ý. Sau khi nhận ược iện thoại, Nguyễn Văn Đ iều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B1- 565.78 từ Trường trung học cơ sở L Q Đ về gặp Nguyễn Văn A thì thấy A ang cầm rựa ứng ở phía trư c nhà (thì Đ hiểu là A rủ i ánh nhau). Sau ó Đ iều khiển xe mô tô 81B1-565.78 chở Nguyễn Văn A ngồi sau cầm một cái rựa i hư ng thôn T, khi ến oạn ường phía trư c nhà giữ trẻ của thôn T, xã T; Nguyễn Văn A iện thoại rủ Nguyễn Văn H i ánh nhau v i nhóm của G v i B nhưng H nói “Mấy ứa ó là em của thằng bạn, ể em ra nói chuyện v i nó”. Đ tiếp tục iều khiển xe mô tô chở A i tìm nhóm của B ể ánh, trên ường i gặp Trần Thành T iều khiển xe mô tô biển số 81B1-843.13 chở Hoàng Ngọc H ều trú tại thôn T, xã T, Đ, G i ngược chiều, khi ó Đ v i A không dừng xe lại mà vẫn tiếp tục i, nhưng T và H nhìn thấy A cầm rựa nên iều khiển xe quay lại i theo Đ v i A, sau khi nghe iện thoại Nguyễn Văn H, kể lại cho Hồ Quang T, trú tại thôn T, xã T, Đ ang xem văn nghệ cùng biết, nghe xong T rủ H chạy ra xem thử, H ồng ý rồi iều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B1- 911.15 chở T i hư ng thôn T tìm A; Còn Nguyễn Văn Đ iều khiển xe chở Nguyễn Văn A i ến khu vực cổng chào thôn T, xã T, huyện Đ thì thấy Trương Sỹ B, Nguyễn Quốc T cùng trú tại thôn T, xã T, Đ, G, Nguyễn Văn M, trú tại x G, Đ, G và H, trú tại làng K, xã T, Đ, G ang ngồi chơi thì Nguyễn Văn Đ dừng xe, Nguyễn Văn A cầm rựa xuống xe i lại ứng ối diện v i Trương Sỹ B hỏi “Mày kêu người ánh tao”, B không trả lời, Nguyễn Văn A cầm rựa chém một nhát vào khuỷu tay phải và hai nhát vào vai phải của Trương Sỹ B, sau khi bị chém B chạy bộ về nhà của mình. Khi thấy Nguyễn Văn A chém Trương Sỹ B xong thì Nguyễn Văn Đ i ến chỗ Nguyễn Văn A lấy rựa từ tay của Á rồi i ến chỗ Nguyễn Văn M hỏi “Tụi mày là ai”, M không trả lời. Lúc này, Trần Thành T iều khiển xe mô tô chở Hoàng Ngọc H và Nguyễn Văn H iều khiển xe mô tô chở Hồ Quang T ến nơi và dừng lại thì Nguyễn Văn Đ cầm rựa chém vào ùi phải của M làm M bị thương. Thấy M bị thương, A bảo T chở M cấp cứu, sau ó Đ chở A, H chở T tất cả cùng i ến trạm xá xã T sơ cứu cho Nguyễn Văn M, rồi ưa Mạnh i cấp cứu và iều trị tại Bệnh viện a khoa tỉnh G ến ngày 09/9/2016 thì xuất viện.
Trương Sỹ B ược gia ình ưa i cấp cứu và iều trị tại Bệnh viện Quân Y 211 ến ngày 09/9/2016 thì xuất viện.
Tại bản kết luận giám ịnh pháp y về thương tích số: 233/TTPY ngày 17/10/2016, của Trung tâm pháp y tỉnh G xác ịnh tổn thương cơ thể Trương Sỹ B do thương tích gây nên là 27% (hai mươi bảy phần trăm).
Riêng Nguyễn Văn M có ơn xin rút ơn yêu cầu khởi tố và ơn từ chối giám ịnh thương tích.
2. Các vấn đề khác:
Đối v i xe mô tô biển kiểm soát 81B1- 565.78, Nguyễn Văn Đ dùng làm phương tiện chở Nguyễn Văn A i phạm tội, chiếc xe này là của ông Nguyễn Đức N (Bố của A và Đ), khi Đ lấy xe chở A i phạm tội, ông N không biết nên Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an huyện Đ ra Quyết ịnh trả lại xe mô tô trên cho ông N là úng quy ịnh của pháp luật.
Chiếc iện thoại di ộng Nguyễn Văn A dùng gọi iện rủ Nguyễn Văn Đ và gọi iện rủ Nguyễn Văn H i ánh nhau, sau khi gây án, Nguyễn Văn A làm mất ở âu không xác ịnh ược, nên không có cơ sở truy tìm.
Đối v i chiếc iện thoại di ộng Nguyễn Văn Đ dùng ể nghe Nguyễn Văn A gọi iện nói về chở i ánh nhau, Nguyễn Văn Đ khai làm mất ở âu không xác ịnh ược, nên không có cơ sở truy tìm.
Đối v i Nguyễn Văn H, khi ược Nguyễn Văn A gọi iện rủ i ánh nhau, H chỉ nói ra nói chuyện chứ không phải ra ể ánh nhau, bản thân H cũng không ánh gây thương tích cho ai nên không có ủ cơ sở ể xử lý ối v i H.
Đối v i Trần Thành T, Hoàng Ngọc H, Hồ Quang T chỉ thấy A và Đ cầm rựa i nên i theo chứ không có bàn bạc và tham gia ánh nhau nên cũng không có cơ sở ể xử lý ối v i Trung, Hiền, Tâm.
3. Cáo trạng của Viện kiểm sát: Tại bản cáo trạng số: 17/Ctr-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tỉnh G truy tố bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 iều 104 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay kiểm sát viên thực hiện quyền công tố ề nghị:
Về áp dụng pháp luật: Theo quy ịnh tại khoản 2 iều 134 bộ luật hình sự năm 2015 thì khung hình phạt là từ 02 năm ến 05 năm. Căn cứ khoản 3 iều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp có lợi cho người phạm tội theo quy ịnh tại iều 134 Bộ luật Hình sự
Áp dụng: khoản 2 Điều 104; iểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, iều 53 Bộ luật hình sự: Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn A từ 36 tháng ến 42 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 30 tháng ến 36 tháng tù.
Về dân sự: Căn cứ iều 42 BLHS; các iều 584, 585, 586, 587, 590 BLDS năm 2015 buộc các bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 115.000.000 ồng, các bị cáo bồi thường 35.000.000 ồng, do ó các bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 80.000.000 ồng, trong ó bị cáo Nguyễn Văn Á bồi thường 40.000.000 ồng, bị cáo Nguyễn Văn Đ bồi thường 40.000.000 Đ.
Về vật chứng: Căn cứ iều 76 BLTTHS ề nghị tịch thu tiêu hủy 1 chiếc rựa
Về án phí các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy ịnh của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thừa hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố và mong Hội ồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết ịnh tố tụng của Cơ quan iều tra, Kiểm sát viên trong quá trình iều tra, truy tố thực hiện úng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy ịnh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình iều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết ịnh của cơ quan tiến hành tố tụng. Do ó, các hành vi, quyết ịnh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng ều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của các bị cáo: Dù không có mâu thuẫn v i nhau từ trư c nhưng khoảng 19h30’ ngày 04/9/2016, sau khi nghe nói B có mâu thuẫn v i bạn bè cùng xóm, Nguyễn Văn A về nhà mình tại lấy 01 con dao rựa sau ó gọi iện thoại cho anh trai là Nguyễn Văn Đ về chở i ánh nhau. Đ ồng ý, sau ó Nguyễn Văn Đ iều khiển xe mô tô biển số 81B1 - 565.78 từ nhà chở Nguyễn Văn A i tìm Trương Sỹ B ể ánh. Khi ến khu vực cổng chào thôn T thì Á và Đ gặp Trương Sỹ B, Nguyễn Văn M và một số người khác ang ngồi chơi. Nguyễn Văn A xuống xe và cầm rựa chém B chém một nhát vào khuỷu tay phải và hai nhát vào vai phải của B thì B bỏ chạy về nhà, sau ó Nguyễn Văn Đ ra lấy con dao rựa từ tay của A ến chém một phát vào ùi phải của Mạnh làm bị thương. Theo Kết luận giám ịnh tỷ lệ thương tích thì Trương Sỹ B bị tổn hại 27% sức khỏe, riêng Nguyễn Văn M từ chối giám ịnh thương tích.
Khi gây thương tích cho anh B, các bị cáo ã sử dụng con dao rựa là hung khí nguy hiểm ( ược quy ịnh tại iểm a, tiểu mục 2.2 mục 2 phần I của Nghị quyết số 02/2003/NQ/HĐTP ngày 17.4.2003 của Hội ồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy ịnh về một số tình tiết là yếu tố ịnh tội hoặc ịnh khung hình phạt), ngoài ra các bị cáo còn phạm tội có tính chất côn ồ nên hành vi của các bị cáo
ủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố truy tố ối v i các bị cáo là có căn cứ, úng người úng tội, úng pháp luật.
Trong vụ án này có nhiều bị cáo nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc phân công cụ thể r ràng nên ây chỉ là ồng phạm giản ơn.
Xét về vai trò của từng bị cáo trong vụ án này thì thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn A là người rủ rê, khởi xư ng và là người cầm rựa chém B chém một nhát vào khuỷu tay phải và hai nhát vào vai phải của B gây tổn hại sức khỏe là 27%, do ó phải là người chịu trách nhiệm chính trong vụ án.
Đối v i bị cáo Nguyễn Văn Đ mặc dù không phải là người trực tiếp gây ra thương tích cho B nhưng khi nghe thấy A cầm rựa biết là i ánh nhau, bản thân là anh của bị cáo Á nhưng không khuyên em mình mà còn lập tức ồng ý, giúp sức cho bị cáo Á, do ó bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm tương xứng v i hành vi của mình gây ra.
Hội ồng xét xử nhận ịnh: Tính mạng sức khỏe của con người là vốn quý, mọi hành vi xâm phạm ến tính mạng sức khỏe của người khác ều bị pháp luật nghiêm trị. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, trực tiếp xâm phạm ến sức khỏe của người bị hại một cách trái pháp luật, gây khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt B thường của người bị hại, ảnh hưởng xấu ến trật tự trị an x hội, tạo tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo biết r hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, iều ó làm ảnh hưởng ến trật tự x hội và thể hiện tính xem thường pháp luật của các bị cáo. Các bị cáo là người có ủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự ối v i hậu quả do hành vi của mình trực tiếp gây ra.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Quá trình iều tra, truy tố bị cáo chưa thành khẩn khai báo nhưng tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo tác ộng gia ình khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra ồng thời tự nguyện tiếp tục bồi thường toàn bộ khoản tiền về bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại và người ại diện hợp pháp cho người bị hại; người bị hại và người ại diện hợp pháp cho người bị hại có ơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo
ưa người bị hại i cấp cứu và chăm sóc ban ầu tại Bệnh viện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại iểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự sẽ ược áp dụng khi quyết ịnh mức hình phạt.
Về áp dụng pháp luật đối với bị cáo: Căn cứ iểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự. So v i tội “Cố ý gây thương tích” quy ịnh tại Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội “Cố ý gây thương tích” quy ịnh tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 02 ến 05 năm. Do vậy, ể có lợi cho các bị cáo nên cần ược áp dụng khi quyết ịnh mức hình phạt.
Trên cơ sở phân tích ánh giá tính chất mức ộ nguy hiểm về hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét ầy ủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Hội ồng xét xử nhận thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi x hội một thời gian m i có khả năng cải tạo, giáo dục ể các bị cáo trở thành người có ích cho x hội, ồng thời m i bảo ảm ược tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Vật chứng trong vụ án:
01 cây rựa mà bị cáo Nguyễn Văn A dùng ể chém người bị hại. Xét vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về Dân sự: Gia ình Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn Đ bồi thường số tiền 35.000.000 (Ba lăm mươi triệu ồng) cho gia ình bị hại Trương Sỹ B, gia ình bị hại yêu cầu gia ình các bị cáo tiếp tục bồi thường thêm số tiền 80.000.000 (tám mươi ồng). Cụ thể bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường 40.000.000 ồng, bị cáo Nguyễn Văn Đ phải bồi thường 40.000.000 ồng. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo ồng ý liên i bồi thường theo yêu cầu của người bị hại, xét ây là sự tự nguyện của các bị cáo nên cần chấp nhận.
Đối v i số tiền 35.000.000 ồng mà gia ình các bị cáo bỏ ra ể bồi thường cho người bị hại, tại phiên tòa hôm nay gia ình các bị cáo không yêu cầu bị cáo Á và bị cáo Đ trả lại số tiền trên nên HĐXX không xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy ịnh của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
2. Áp dụng khoản 2 Điều 104; iểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, iều 53 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 21/11/2016
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 21/11/2016
3. Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 115.000.000 , bồi thường 35.000.000 nên các bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 80.000.000 , theo phần bằng nhau, cụ thể:
Bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường cho Trương Sỹ B số tiền 40.000.000 ồng (Bốn mươi triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải bồi thường cho Trương Sỹ B số tiền 40.000.000 ồng (Bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Áp dụng iểm khoản 1 Điều 76 bộ luật hình sự: Xử tịch thu tiêu hủy 01 chiếc rựa theo như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2017 giữa Cơ quan cảnh sát iều tra công an huyện Đ và chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
5. Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 iều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 ồng (Hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, người bị hại, người ại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/11/2017), ể yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Đối v i người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người ại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án ược tống ạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh G; -Sở tư pháp tỉnh G; - Công an huyện Đ; - VKSND huyện Đ; - THADS; - Bị cáo - Người bị hại; - Người có qlnvlq; - Lưu hồ sơ/VP TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK ĐOA TỈNH G BIÊN BẢN NGHỊ ÁN - - - - - - - TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK ĐOA huyện Đăk Đoa, tỉnh G Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông N uy n Xuân H Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lƣu Thôn và bà Lƣơn Nam Xuất Thế tháng 6 năm 2017 ối v i các bị cáo: 1. N uy n Văn A, sinh năm 1993 tại Tiên Phư c - Quảng Nam 2. N uy n Văn Đ, sinh năm 1992 tại Tiên Phư c - Quảng Nam Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: “Cố ý gây thương tích” Kết quả biểu quyết : 3/3 thành viên 2. Về iều luật áp dụng : luật hình sự. Kết quả biểu quyết : 3/3 thành viên 3. Về mức hình phạt : bắt tạm giam 21/11/2016 tạm giam 21/11/2016 Kết quả biểu quyết : 3/3 thành viên 4. Về các vấn ề khác: Điều 586, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo phải liên i bồi thường cho người bị hại số tiền 115.000.000 , bồi thường 35.000.000 nên các bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 80.000.000 , tho phần bằng nhau, cụ thể: ồng (Bốn mươi triệu đồng). ồng (Bốn mươi triệu đồng). quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. tiêu hủy 01 chiếc rựa theo như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2017 giữa Cơ quan cảnh sát iều tra công an huyện Đ và chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 ồng (Hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. bị cáo và những người tham gia tố tụng khác Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Biên bản nghị án cùng nghe và ký tên. (Ký tên, ghi rõ họ tên) Lƣu Thôn Lƣơn Nam Xuất Thế | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA N uy n Xuân H CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập -Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- Đăk Đoa, ngày 22 tháng 11 năm 2017 Vào hồi giờ phút ngày 22 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2017/HS-ST ngày 08 Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn Đ phạm tội: Áp dụng khoản 2 Điều 104; iểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, iều 53 Bộ Xử phạt: Nguyễn Văn A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt - Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường cho Trương Sỹ B số tiền 40.000.000 Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải bồi thường cho Trương Sỹ B số tiền 40.000.000 Kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ - Về vật chứn : Áp dụng iểm khoản 1 Điều 76 bộ luật hình sự: Xử tịch thu - Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 iều 23 Nghị Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu - Tuyên quyền kháng cáo, tuyên quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự cho các Nghị án kết thúc vào hồi…....giờ..….phút..…, ngày 22 tháng 11năm 2017 ược ọc lại cho tất cả các thành viên Hội ồng xét xử THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) N uy n Xuân H |