- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC
- Căn cứ chính? Điều 474 Bộ luật Dân sự; Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN Về việc sửa đổi, bổ sung một…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 448/2020/DS-ST Ngày: 15-5-2020 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc An
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Cẩm Vân
2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Khang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phan Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1291/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2019 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2020/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2020/QĐST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2020, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 59/2020/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2020, Thông báo về việc tiếp tục phiên tòa số: 323/2020/TB-TA ngày 23 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC
Địa chỉ: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đào Văn Q – Đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số: 122/UQ-QLN.20 ngày 21/02/2020); Địa chỉ: Lầu 8, tòa nhà ACB Tower, 444A-446 Cách Mạng Tháng 8, Phường 11, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1979;
Địa chỉ: 62/11G Điện Biên Phủ, Phường Y, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 6 năm 2018 và các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 06/3/2015 Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC và ông Nguyễn Văn T có xác lập Hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315 (Số tài khoản vay: 194363209). Theo đó, ông T vay tín dụng số tiền là: 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu), thời hạn vay: 60 tháng (kể từ ngày 06/3/2015), mục đích vay: Tiêu dùng tín chấp, lãi suất vay: trong hạn là 10%/năm, quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình vay vốn, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ngày 03/4/2017, Ngân hàng đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và ngày 03/5/2017 Ngân hàng dã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC yêu cầu Tòa án giải quyết : Buộc ông Nguyễn Văn T phải thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 15/01/2020 là : 185.133.750 đồng, trong đó vốn gốc: 123.000.000 đồng, lãi trong hạn: 10.350.000 đồng, lãi quá hạn : 50.583.750 đồng; Phạt chậm trả: 1.200.000 đồng; Trả làm một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật ; Ông Nguyễn Văn T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất do hai bên thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Được thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án không nhận được ý kiến và bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào của ông T.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên lời trình bày nêu trên, về số tiền yêu cầu bị đơn thanh toán tính đến ngày mở phiên tòa 15/5/2020 là: 191.335.000 đồng; Trong đó, vốn gốc: 123.000.000 đồng, lãi trong hạn: 10.350.000 đồng, lãi quá hạn: 56.785.000 đồng, phạt trả trễ: 1.200.000 đồng; Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất do hai bên thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315 cho đến khi thanh toán xong.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (Được thể hiện tại bài phát biểu số 54/PB-VKS-DS ngày 15/5/2020):
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC và ông Nguyễn Văn T ngày 06/3/2015, các bản sao kê của Hợp đồng, lịch trả nợ vay, thông báo trả nợ vay ...thấy rằng ông T đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng đồng cũng như quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ trả tiền từ việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông, do đó quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp Hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Tòa án căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC và ông Nguyễn Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn là ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa váo các ngày: 20/3/2020, 16/4/2020, 15/5/2020 nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc là 123.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:
Qua chứng cứ thể hiện trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn đã có đủ cơ sở khẳng định giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC và ông Nguyễn Văn T có xác lập hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315 vào ngày 06/3/2015; Theo đó, ông T và Ngân hàng đã thỏa thuận và ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên bởi những điều khoản trong hợp đồng này. Ông T thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo kỳ là mỗi tháng bao gồm tiền vốn gốc và tiền lãi theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng (tiền vốn gốc: 3.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 1.500.000 đồng); Tổng cộng đã thanh toán 19 kỳ (57.000.000 đồng), bắt đầu từ 06/4/2015 đến 04/10/2016. Sau đó ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán ở các kỳ tiếp theo bao gồm tiền gốc và tiền lãi là vi phạm Điều 5 về “thu hồi nợ trước hạn” của hợp đồng tín dụng. Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” và căn cứ vào khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau: “ Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn ...” Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc là 123.000.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi trong hạn: 10.350.000 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 15/5/2020: 56.785.000 đồng, phạt trả trễ: 1.200.000 đồng; Tiếp tục chịu tiền lãi tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất do hai bên thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong, Hội đồng xét xử nhận định:
Trong hợp đồng tín dụng, tại Điều 4, Điều 5, Điều 6 nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận về cách tính tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền phạt trả góp trễ hạn, quy định về việc thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn. Khi bị đơn vi phạm hợp đồng liên tiếp trong 6 kỳ (từ ngày 06/10/2016 đến 06/4/2017), nguyên đơn đã tiến hành thông báo thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn đối với dư nợ gốc 123.000.000 đồng từ ngày 03/5/2017 với lãi suất là 150% lãi suất trong hạn.
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định về lãi suất như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; Căn cứ Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hành theo lãi suất thỏa thuận thì: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả”; Căn cứ Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 quy định về lãi suất cho vay như sau:
“1. Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng”.
Đồng thời căn cứ vào Điều 7 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
“ Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết ...”.
Hội đồng xét xử xét thấy thời gian tính lãi, mức lãi suất, tiền phạt trả góp trễ hạn nguyên đơn áp dụng đối với bị đơn là đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định của pháp luật nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền lãi trong hạn: 10.350.000 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 15/5/2020: 56.785.000 đồng, phạt trả trễ: 1.200.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.
Trong khi đó, về phía bị đơn là ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mà không có lý do hay có văn bản trình bày ý kiến đối với việc khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, bị đơn đã từ bỏ quyền tranh tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 15/5/2020 là : 191.335.000 đồng; Trong đó, nợ gốc: 123.000.000 đồng, lãi trong hạn: 10.350.000 đồng, lãi quá hạn: 56.785.000 đồng, phạt trả trễ: 1.200.000 đồng; Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất do hai bên thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315 cho đến khi thanh toán xong là có cơ sở để chấp nhận như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoản trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 471, Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ vào Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC
Buộc bị đơn là ông Nguyễn Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315 ngày 06/3/2015 là: 191.335.000 đồng (Một trăm chín mươi mốt triệu ba trăm ba mươi lăm ngàn); Trong đó nợ gốc : 123.000.000 đồng, lãi trong hạn: 10.350.000 đồng, lãi quá hạn : 56.785.000 đồng, phạt trả trễ: 1.200.000 đồng . Ông T trả số tiền trên làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, ông Nguyễn Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trả góp số: BTH.CN.467.050315 ngày 06/3/2015. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về Án phí:
Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 9.566.750 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 3.812.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2017/0005030 ngày 20/7/2018 của Chi cục thi hành án Dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND Q. Bình Thạnh; - Chi cục THADS Q. Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu hs, vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc An |