- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của UBND thành phố T; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2024/HC-ST ngày 07/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, t…; Điều 79 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 447/2024/HC-PT Ngày: 24/12/2024 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tào
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Phạm Tồn
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Yên – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 371/2024/TLPT-HC ngày 30 tháng 10 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2024/HC-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2216/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 12 năm 2024; giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố L, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
2. Người bị kiện:
+ Ủy ban nhân dân tỉnh P.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ủy ban nhân dân tỉnh P: Ông Nguyễn An P – Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P. Vắng (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công T - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố T. Vắng (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND thành phố T: Bà Nguyễn Thị Xuân Đ, Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Ngọc B – Công chức địa chính
- xây dựng phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
+ Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng và phát triển quỹ đất thành phố T;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn P1 – Chức vụ: Phó Giám đốc Ban Q đất thành phố T. Vắng (có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Ông Nguyễn L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng (có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Người bị kiện UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người khởi kiện bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Bà Nguyễn Thị Thúy H nhận được Quyết định thu hồi đất số 4300/QĐ-UBND ngày 31/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T. Quyết định này có nội dung thu hồi 100,6m² đất của bà Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng. Trong đó: 85,8m² đất bằng trồng cây hàng năm khác của hộ ông Nguyễn L; 14,8m2 đất rừng sản xuất do UBND phường I quản lý, thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ địa chính số 255-B, tại phường I, thành phố T để thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2.
Bà Nguyễn Thị Thúy H đồng ý chủ trương thu hồi đất để làm dự án, đồng ý nguồn gốc đất xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp chưa chuyển mục đích là chưa đúng pháp luật và không đủ điều kiện bồi thường về đất ở. Tuy nhiên, việc xây nhà ở của bà không bị xử lý gì.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật Đất đai; khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 thì việc thu hồi đất và nhà của gia đình bà H hoàn toàn thỏa mãn quy định tại khoản 2 Điều 79 Luật đất đai; khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, UBND thành phố T phải bán cho gia đình bà 01 (một) lô đất tái định cư.
Quyết định 4353/QĐ-UBND ngày 12/9/2023 của UBND thành phố T về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với bà Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng (đất của hộ ông Nguyễn L + UBND phường I) trúng giải tỏa là chưa đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình bà, cụ thể: Theo Bảng tính chi tiết ngày 01/8/2023, xác định thửa đất thu hồi của bà là thửa 71, đất bằng trồng cây hàng năm khác. Quyết định 4353 tại Điều 1 có nội dung:
- Bồi thường về đất: 12.183.600 đồng.
- Bồi thường về cây trồng: 1.017.000 đồng.
- Bồi thường di chuyển chỗ ở: 14.000.000 đồng.
- Hỗ trợ khác: 177.518.404 đồng.
Hỗ trợ khác 177.518.404 đồng theo Bảng chi tiết tính ngày 01/8/2023 thì đây là toàn bộ giá trị phần nhà ở. Do đó, cần phải xác định cho đúng là bồi thường về nhà ở. Đồng thời, Quyết định 4353 cũng không có nội dung về giao đất ở tái định cư có thu tiền sử dụng đất là chưa đúng pháp luật, cụ thể:
Thứ nhất, về nguồn gốc đất: Năm 2006, bà H có nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn L (có giấy viết tay) với diện tích là 100,6m².
Thứ hai, về nguồn gốc nhà: Năm 2009, sau khi mua thửa đất số 71, bà H xây dựng một căn nhà ở, Ủy ban nhân dân phường I đã xác nhận trong Đơn xin xác nhận nhà ở ngày 15/11/2015“Hộ bà Nguyễn Thị Thúy H hiện có nhà cấp 4 tại khu phố L, phường I, thành phố T”. Đồng thời, gia đình bà H có Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt với Tổng Công ty Đ1 sử dụng từ năm 2015 cho đến nay. Gia đình bà cũng không có nhà và đất nào khác tại phường I.
Tại thời điểm bà xây dựng nhà ở, Phòng QLĐT cùng phường đến lập biên bản kiểm tra hiện trường xác định bà xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp chưa chuyển mục đích sử dụng đất và xây dựng nhà có Giấy phép đồng nghĩa trên đất thu hồi là có nhà ở theo đúng quy định nhà ở tại khoản 1 Điều 3 Luật nhà ở năm 2019.
Thứ ba, việc áp giá bồi thường theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh P không căn cứ theo Quyết định số 53/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 về việc ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Phú Yên 5 năm (2020-2024) là không đúng với Điều 114 Luật Đất đai năm 2013. Trong khi đó, theo Quyết định 4353 chỉ căn cứ Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 22/9/2021 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Phú Yên là thiếu căn cứ pháp luật.
Thứ tư, tại Quyết định này cũng ghi “Đất của hộ ông Nguyễn L” là không đúng pháp luật.
Thứ năm, tại văn bản hướng dẫn, trả lời của Bộ T1 cho tỉnh Lào Cai cũng đã nêu rõ, trường hợp thu hồi đất của bà là phải giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất.
Hiện nay, gia đình bà H gồm 07 nhân khẩu không còn chỗ ở nào khác, đề nghị nhà nước bán cho một lô đất không thông qua đấu giá.
Bà Nguyễn Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Hủy một phần Quyết định số 4300/QĐ-UBND ngày 31/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2.
+ Hủy một phần Quyết định số 4353/QĐ-UBND ngày 12/9/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng (Đất của hộ ông Nguyễn L + UBND phường I) trúng giải tỏa Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 (đợt 3).
+ Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành lại Quyết định thu hồi đất và Quyết định chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho bà Nguyễn Thị Thúy H theo hướng xác định thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Thúy H, mà không phải của hộ ông Nguyễn L, xác định phần gọi là hỗ trợ khác là bồi thường về nhà ở, giao đất ở có thu tiền sử dụng đất và xác định có nhà ở theo quy định tại khoản 2 Điều 79 Luật đất đai 2013 và khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 cho đúng quy định của pháp luật.
* Người bị kiện UBND thành phố T trình bày (Văn bản 1381/UBND ngày 26/02/2024):
1. Đối với yêu cầu hủy một phần Quyết định số 4300/QĐ-UBND ngày 31/8/2023 V/v thu hồi đất để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2; Hủy một phần Quyết định số 4353/QĐ-UBND ngày 12/9/2023 của UBND thành phố T V/v Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với bà Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng (đất của hộ ông Nguyễn L + UBND phường I) trúng giải tỏa Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 (đợt 3):
Căn cứ Quyết định số 09/QĐ-HĐND ngày 09/6/2017 của Hội đồng nhân dân thành phố T về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2.
Ngày 18 tháng 01 năm 2018, UBND thành phố T ban hành Kế hoạch số 13/KH-UBND về việc thu hồi đất, điều tra, khảo sát, kiểm đếm để thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 và Thông báo số 149/TB-UBND ngày 18/01/2018 của UBND thành phố T về việc thu hồi đất hộ bà Nguyễn Thị Thúy H, thường trú khu phố L, phường I, thành phố T để thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2; Ngày 02/3/2023, UBND thành phố T ban hành Thông báo số 145/TB-UBND điều chỉnh Khoản 1 Thông báo số 149/TB-UBND ngày 18/01/2018 của UBND thành phố T với nội dung điều chỉnh: Tên người thu hồi đất hộ bà Nguyễn Thị Thúy H thành thu hồi đất hộ ông Nguyễn L + UBND phường I (bà Nguyễn Thị Thúy H sử dụng đất) và diện tích dự kiến thu hồi 100,6m2. Trong đó: Diện tích 85,2 m2 đất hộ ông Nguyễn L (bà Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng) và 14,8m2 đất do UBND phường quản lý. Ngày 13/3/2018 Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố T phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tiến hành kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất trong khu vực thu hồi để thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2, trong đó có thửa đất của bà Nguyễn Thị Thúy H. Qua kiểm kê hiện trạng bà Nguyễn Thị Thúy H ký vào Biên bản kiểm kê đất đai, tài sản gắn liền với đất trong khu vực thu hồi đất để thực hiện Dự án.
Trên cơ sở biên bản kiểm kê và các giấy tờ bà Nguyễn Thị Thúy H cung cấp, UBND phường I họp xét nguồn gốc đất cụ thể: Hộ khẩu thường trú: Khu phố L, Phường I, TP T. Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng tại thửa đất số 71 mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính số 12/2018 do Công ty TNHH Đ2 lập và được Sở T ký kiểm tra ngày 28/12/2018. Tổng diện tích hiện trạng sử dụng 100,6m2, diện tích thu hồi 100,6m2, loại đất: Đất ở đô thị (ODT). Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Phần diện tích 85,8m2 là của ông Nguyễn L được UBND thị xã T (nay là UBND thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00481, ngày cấp 10/5/1998 tại thửa đất số 10, tờ bản đồ 255B. Diện tích: 1.477m2. Loại đất màu. Chủ sử dụng hộ ông Nguyễn L và diện tích 14,8m2 do ông Nguyễn Lộc L1 đất rừng sản xuất do nhà nước quản lý vào năm 1998. Đến tháng 02/2009 ông Nguyễn L chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Thúy H một phần diện tích đất nông nghiệp trong thửa đất số 10, TBĐ 255B, diện tích đất 85,8m2 (giấy tờ viết tay không có xác nhận của chính quyền địa phương. Đối chiếu phiếu xác nhận kết quả đo đạc thửa đất với Bản đồ đo đạc năm 1994 và sổ mục kê quyển số 1, trang số 98 thì phần diện tích bị ảnh hưởng trên chỉ có 85,8m2 thuộc thửa số 10, TBĐ 255B, loại đất: sản xuất nông nghiệp (BHK), chủ sử dụng: Nguyễn Lộc (trang 69, sổ mục kê lập năm 1998) và 14,8m2 thuộc thửa đất số 501, tờ bản đồ số 255-B, diện tích 331.960m2, Loại đất: Lâm nghiệp (LN), được Sở địa chính ký ngày 15/10/1998. Tên chủ sử dụng: UBND phường quản lý.
Hội đồng thống nhất kết luận: Căn cứ Khoản 1 Điều 75 và Khoản 4 Điều 82 Luật đất đai năm 2013 của Chính Phủ. Chủ sử dụng đất hộ ông Nguyễn L + UBND Phường 9 (người đang sử dụng bà Nguyễn Thị Thúy H sử dụng từ đó đến nay). Diện tích đất trúng giải tỏa 100,6 m2. Trong đó: Diện tích 85,8m2, loại đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK), thuộc phần diện tích đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn L. Diện tích 14,8m2, loại đất rừng sản xuất (RSX), do UBND phường quản lý. Thời điểm hộ ông Nguyễn L sử dụng đất nông nghiệp 1998; Thời điểm sử dụng đất lấn năm 1998.
Về công trình nhà cửa, vật kiến trúc xây dựng năm 2009 (Căn cứ theo biên bản kiểm tra do phòng Quản lý Đô thị lập năm 2012), tại thời điểm xây dựng không bị lập biên bản vi phạm hành chính.
Ngày 03/02/2023, Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố đã phối hợp với UBND phường I tiến hành niêm yết công khai lấy ý kiến phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án nêu trên tại trụ sở I và khu dân cư nơi có đất thu hồi và chuyển giao Bảng tính chi tiết gồm: Đối với bồi thường về đất: Căn cứ Quyết định số 1009/QĐ-UBND ngày 09/7/2019 của UBND tỉnh P V/v Phê duyệt giá đất cụ thể (phương án giá đất) làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2, trong đó: Xác định vị trí thửa đất thu hồi của bà Nguyễn Thị Thúy H vị trí 1, loại đất BHK. Áp giá đền bù về đất 12.183.600 đồng. Bồi thường cây trồng 1.017.000 đồng; hỗ trợ khác 177.518.404 đồng. Căn cứ Khoản 1 Điều 14 Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 17/8/2021 của UBND tỉnh để tính toán hỗ trợ, di chuyển chỗ ở với số tiền 14.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Thúy H đóng góp ý kiến vào Phiếu góp ý kiến Nhà nước thu hồi đất tái định cư chỗ nào. Ngày 24/02/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất phối hợp I kết thúc niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2. Cùng ngày 24/02/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất phối hợp I và UBMTTQVN Phường 9 tổ chức đối thoại giải thích ý kiến đóng góp với phương án dự thảo. Trung tâm Phát triển Quỹ đất đã hoàn chỉnh hồ sơ, trình phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định, trình UBND thành phố phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định.
Ngày 31/8/2023, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 4300/QĐ-UBND V/v thu hồi đất để thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2. Theo đó, thu hồi 100,6 m2 của bà Nguyễn Thị Thúy H (khu phố L, phường I thành phố T) đang sử dụng. Trong đó: 85,8m2 đất bằng trồng cây hàng năm khác của hộ ông Nguyễn L, 14,8m2 đất rừng sản xuất do UBND phường I quản lý (không bồi thường về đất) thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ địa chính số 255-B, tại Phường I, thành phố T. Vị trí, ranh giới thửa đất được xác định theo Mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính số 12/2018 do Công Ty TNHH Đ2 thực hiện được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P kiểm tra, ký phê duyệt ngày 28/12/2018.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, UBND thành phố T ban hành Quyết định số 4306/QĐ-UBND về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trong đó có bà Nguyễn Thị Thúy H được bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền là 204.719.004 đồng.
Ngày 12/9/2023, UBND thành phố ban hành Quyết định số 4353/QĐ-UBND V/v bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với bà Nguyễn Thị Thúy H với tổng số tiền 204.719.004 đồng gồm: Bồi thường về đất 12.183.600 đồng; Bồi thường cây trồng 1.017.000 đồng; Bồi thường di chuyển chỗ ở 14.000.000 đồng và hỗ trợ khác 177.518.404 đồng. Hiện nay, bà Nguyễn Thị Thúy H vẫn chưa đồng ý nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng cho Trung tâm Phát triển Quỹ đất. Như vậy, UBND thành phố T đã tính toán, lập phương án bồi thường, hỗ trợ đối với bà Nguyễn Thị Thúy H là đúng quy định.
Từ cơ sở trên nội dung khởi kiện bà Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu hủy một phần Quyết định số 4300/QĐ-UBND V/v thu hồi đất; Hủy một phần Quyết định số 4353/QĐ-UBND ngày 12/9/2023 của UBND thành phố T V/v Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với bà Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng (đất hộ ông Nguyễn L và UBND phường I quản lý trúng giải tỏa Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 (đợt 3) là không có cơ sở.
2. Đối với nội dung yêu cầu UBND thành phố T ban hành lại quyết định thu hồi đất và Quyết định chi trả tiền, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho bà Nguyễn Thị Thúy H theo hướng xác định thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Thúy H, mà không phải của hộ ông Nguyễn L, xác định phần gọi là hỗ trợ khác là bồi thường về nhà ở, giao đất ở có thu tiền sử dụng đất và xác định có nhà ở theo quy định tại khoản 2 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013, Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ cho đúng quy định của pháp luật:
Như nội dung 1 đã nêu trên, UBND thành phố T đã ban hành quyết định thu hồi đất; quyết định bồi, thường hỗ trợ đối bà Nguyễn Thị Thúy H là đúng quy định. Do vậy bà H yêu cầu: Buộc UBND thành phố T ban hành lại Quyết định thu hồi đất và Quyết định bồi thường không có cơ sở xem xét giải quyết.
Căn cứ Khoản 2 Điều 79 Luật đất đai 2013 quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở: “Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất ”. Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Khoản 4 Điều 4 Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 22/9/2021 của UBND tỉnh P. Các quy định nêu trên quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở, trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng đất bằng trồng cây hàng năm khác và đã được UBND thành phố T thu hồi đất bằng trồng cây hàng năm khác (B1), thời điểm xây dựng vào năm 2009 trên đất không được phép xây dựng. Do vậy, bà Nguyễn Thị Thúy H không thuộc trường hợp được xem xét xác định lại hỗ trợ khác là bồi thường về nhà ở, giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử
dụng đất.
* Người bị kiện UBND tỉnh P: Không có văn bản trình bày ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban Q đất trình bày: Thống nhất nội dung ý kiến và quan điểm của UBND thành phố T.
* Người có quyền lợi. nghĩa vụ liên quan UBND phường I trình bày:
Căn cứ pháp lý: Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc và hồ sơ địa chính (bản đồ địa chính năm 1994 và sổ mục kê năm 1998, trang 69) thì phần diện tích đất bà Nguyễn Thị Thúy H đang khởi kiện thuộc một phần thửa đất số 10, tờ bản đồ 255-B. Diện tích: 1.477m². Loại đất: Màu. Chủ sử dụng: Hộ ông Nguyễn L và một phần diện tích thuộc thửa đất số 501, tờ bản đồ số 255-B, diện tích 331.960m², Loại đất: Lâm nghiệp (LN), được Sở địa chính ký ngày 15/10/1998. Tên chủ sử dụng: UBND phường quản lý.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Hộ ông Nguyễn L được Nhà nước cân đối đất theo Nghị định số 64/NĐ-CP và được UBND thị xã T (nay là UBND thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 00481, ngày cấp 10/5/1998 tại thửa đất số 10, tờ bản đồ 255B. Diện tích: 1.477m². Loại đất: Màu. Chủ sử dụng: Hộ ông Nguyễn L. Đến tháng 02/2009 ông Nguyễn L chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thúy H, diện tích 100m² đất nông nghiệp trong thửa số: 10, tờ bản đồ 255-B, sau khi áp mảnh đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính số 12/2018, do Công ty TNHH Đ2 lập để thực hiện dự án lên bản đồ lập năm 1994 thì thửa đất bà H đang sử dụng có 14,8m2 đất rừng sản xuất do nhà nước quản lý,
Về công trình, vật kiến trúc: Bà Nguyễn Thị Thúy H xây dựng năm 2009 trên cơ sở biên bản kiểm tra hiện trường do Phòng QLĐT thành phố kiểm tra năm 2011, tại thời điểm xây dựng không bị lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với nội dung yêu cầu giao đất ở mới có thu tiền sử dụng đất hoặc bán nhà ở tái định cư: Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013, Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và khoản 4 Điều 4 Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 22/9/2021 của UBND tỉnh P quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở thì trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy H không bị thu hồi đất ở và đã được UBND thành phố bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho bà Nguyễn Thị Thúy H, diện tích đất 85,8m², với tổng số tiền 204.719.004 đồng gồm: Bồi thường về đất 12.183.600 đồng; Bồi thường về cây trồng 813.000 đồng; Bồi thường di chuyển chỗ ở 14.000.000 đồng và hỗ trợ khác 177.518.404 đồng là đúng quy định nên không thuộc trường hợp được xem xét giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn L trình bày: Khoảng năm 2006, ông L bán đất nông nghiệp cho bà Nguyễn Thị Thúy H. Việc chuyển nhượng giữa ông L và bà H thực hiện bằng giấy tay, không được cơ quan có thẩm quyền chứng thực. Không nhớ rõ thời điểm nào bà H xây nhà ở; sau khi xây dựng nhà ở, bà H sinh sống từ đó cho đến nay.
Bà Nguyễn Thị Thúy H được toàn quyền sử dụng, định đoạt thửa đất này, ông không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị Thúy H đối với Ủy ban nhân dân tỉnh P, Ủy ban nhân dân thành phố T. Đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và cam kết không khiếu nại về sau.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2024/HC-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 2 Điều 173, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 348, Điều 358 của Luật tố tụng hành chính; Khoản 2 Điều 79 Luật đất đai 2013; Khoản 4 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Khoản 4, khoản 5 Điều 4 Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 22/9/2021 của UBND tỉnh P ban hành quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Phú Yên; Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến; Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15 tháng 12 năm 2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Thúy H về các yêu cầu:
+ Hủy một phần Quyết định số 4306/QĐ-UBND ngày 31/08/2023 của UBND thành phố T “V/v Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 (Đ) và hủy một phần Quyết định số 4353/QĐ-UBND ngày 12/9/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng (Đất của hộ ông Nguyễn L + UBND phường I) trúng giải tỏa Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 (đợt 3) liên quan đến việc giải quyết nhu cầu chỗ ở của người khởi kiện.
+ Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho bà Nguyễn Thị Thúy H khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 (đợt 3).
2/ Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu:
+ Hủy một phần Quyết định số 4300/QĐ-UBND ngày 31/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2.
+ Buộc UBND thành phố T ban hành lại Quyết định thu hồi đất theo hướng xác định thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Thúy H, mà không phải của hộ ông Nguyễn L.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, quy định về thi hành án và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/5/2024, người bị kiện UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy H.
Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
- Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố T; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận; Xét thấy:
. Xét kháng cáo của UBND thành phố T; nhận thấy:
- Bà Nguyễn Thị Thúy H cho rằng khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2: Thực hiện Dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2, UBND thành phố T thu hồi toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của bà Nguyễn Thị Thúy H đang sử dụng, trên đất có nhà ở, buộc phải di chuyển chỗ ở và bà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn phường I (nơi có đất thu hồi).
- UBND phường I, thành phố T cũng xác định ngoài diện tích đất nông nghiệp (trên đất có nhà ở) bị thu hồi nêu trên thì bà H không có chỗ ở nào khác trong địa bàn phường I, thành phố T.
Như vây; căn cứ:
- Khoản 2 Điều 79 Luật đất đai 2013 quy định“Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất”.
- Khoản 4 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: “4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định”.
- Khoản 4 và khoản 5 Điều 4 của Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 22/9/2021 của UBND tỉnh P quy định: “Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở (bao gồm cả trường hợp có nhà ở trên đất của người khác), nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính thu tiền sử dụng đất được xác định bằng giá đất trong bảng giá đất nhân (x) với hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh; giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo từng dự án, công trình cụ thể. 5. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi xác nhận hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất còn hoặc không còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn”.
- Theo Văn bản số 323/STNMT-QLĐĐ ngày 08/02/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P thể hiện “V/v phúc đáp nội dung báo cáo số 39/BC-UBND ngày 31/01/2023 của UBND thành phố T thể hiện: Sở T nhận thấy nội dung vướng mắc của UBND thành phố T khi thực hiện công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư liên quan đến khoản 2 Điều 79 của Luật đất đai năm 2013 và khoản 4 Điều 6 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP có nội dung tương tự như nội dung vướng mắc của UBND tỉnh L tại Công văn số 2853/UBND-TNMT ngày 17/6/2016 gửi Bộ T1 đề nghị hướng dẫn và Bộ T1 có Công văn số 5031/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/11/2016 hướng dẫn UBND tỉnh L”.
- Văn bản số 5031/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/11/2016 của Bộ T1 có nội dung như sau: “Theo quy định tại Khoản 2 Điều 79 của Luật đất đai và Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Căn cứ vào quy định nêu trên, đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp mà trên đất có nhà ở thì khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở hoặc thu hồi thì được được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất”.
Đối chiếu các quy định trên và để đảm bảo về mặt an sinh xã hội thì trường hợp bà Nguyễn Thị Thúy H đủ điều kiện để Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; phù hợp Điều 34 và khoản 3 Điều 69 Hiến pháp Nước C quy định “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”; “Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở”.
Do đó, án sơ thẩm hủy một phần của Quyết định 4306/QĐ-UBND và Quyết định số 4353/QĐ-UBND; Buộc UBND thành phố T giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho gia đình bà Nguyễn Thị Thúy H khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ dự án đường B giai đoạn 2 (đợt 3) là có căn cứ, đúng pháp luật. UBND thành phố T kháng cáo nhưng không có tài liệu chứng cứ nào mới có thể làm thay đổi nội dung vụ án. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
.Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên UBND thành phố T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Bác kháng cáo của UBND thành phố T; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2024/HC-ST ngày 07/5/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên.
2. Về án phí phúc thẩm: UBND thành phố T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0004411 ngày 17/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Cục THADS tỉnh Phú Yên; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tào |