vanban.org

Bản án 447/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Huyền Tr và anh Tô Văn V.

Về con chung: 1 Giao hai người con chung Tô Hưng Th, sinh ngày 23/02/2018 và Tô Duy M, sinh ngày 18/10/2019 cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Huyền Tr và anh Tô Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 447/2022/HNGĐ-ST
Ngày 23 - 11 - 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Văn Công Trọn

Ông Hồ Quang Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 613/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 424/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm: 1999 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm x, thị trấn S, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Tô Văn V, sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huyền Tr trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2016, chị Tr và anh Tô Văn V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Chị Tr xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh V.

Về con chung: Chị Tr và anh V có 02 người con chung là Tô Hưng Th, sinh ngày 23/02/2018 và Tô Duy M, sinh ngày 18/10/2019, đang sống với chị Tr. Khi ly hôn, chị Tr yêu cầu tiếp tục nuôi hai con và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi hai con chung, mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị Tr và anh V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Tô Văn V đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Tô Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Xét quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

[2] Về hôn nhân: Năm 2017 chị Nguyễn Thị Huyền Tr và anh Tô Văn V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị Tr trình bày do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Chị Tr xác định không còn tình cảm và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh V. Về phía anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án, cho thấy anh V không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị Tr. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Tr và anh V không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Huyền Tr được ly hôn với anh Tô Văn V.

[4] Về con chung: Chị Tr và anh V có 02 người con chung là Tô Hưng Th, sinh ngày 23/02/2018 và Tô Duy M, sinh ngày 18/10/2019, đang sống với chị Tr. Khi ly hôn, chị Tr yêu cầu tiếp tục nuôi hai con. Xét yêu cầu của chị Tr nhưng anh V không có ý kiến. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao hai cháu Th và M cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tại phiên tòa, chị Tr yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi tháng 3000.000 đồng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi. Về phía anh V cũng không có ý kiến việc chị Tr yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị Tr là phù hợp nên được chấp nhận. Buộc anh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu Tô Hưng Th và Tô Duy M, mỗi tháng 1.500.000 đồng x 02 người = 3.000.000 đồng, liên tục hành tháng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp con đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì anh V vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con.

[6] Về tài sản chung: Chị Tr và anh V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về nợ chung: Chị Tr xác định không có.

[8] Về án phí: Chị Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 cấp dưỡng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Huyền Tr và anh Tô Văn V.

2. Về con chung:

2.1 Giao hai người con chung Tô Hưng Th, sinh ngày 23/02/2018 và Tô Duy M, sinh ngày 18/10/2019 cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2 Buộc anh Tô Văn V phải đóng góp cùng với chị Tr cấp dưỡng nuôi hai con Tô Hưng Th và Tô Duy M số tiền là 3.000.000 đồng/tháng (ba triệu đồng một tháng) cho đến khi hai con đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp con đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì anh V vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Huyền Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Tô Văn V phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 10/10/2022, chị Tr đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005477 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được được chuyển thu đối trừ.

Anh Tô Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ