vanban.org

Bản án 446/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy Minh N về việc “Ly hôn”.

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thùy Minh N được ly hôn với ông Đỗ Phạm Minh T. 2 Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Hoàng Minh T2, sinh ngày 08/5/2005 đã thành niên và Đỗ Hoàng Minh T3, sinh ngày 16/01/2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa bà N và ông T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy Minh N về việc “Ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 446/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/5/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Tám

2. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Liên Hương- Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 952/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2023/QĐST–HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy Minh N, sinh năm 1982; địa chỉ: Đường H, Phường S, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Phạm Minh T, sinh năm 1972; địa chỉ: Đường H, Phường S, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 14/9/2022, nguyên đơn bà Nguyễn Thùy Minh N trình bày:

Bà Nguyễn Thùy Minh N và ông Đỗ Phạm Minh T tự nguyện tìm hiểu, tổ chức cưới, chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận ngày 30/12/2004 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42, Quyển số 01.

Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T tính tình gia trưởng, thường hay nhậu nhẹt, chửi bới vợ con và không quan tâm đến gia đình. Bà N đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn khả năng hàn gắn, yêu cầu được ly hôn ông T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Hoàng Minh T2, sinh ngày 08/5/2005 đã thành niên và Đỗ Hoàng Minh T3, sinh ngày 16/01/2013; cả hai đang sống với ông Thiện. Bà N giao trẻ Thư cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Đỗ Phạm Minh T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 20/02/2023 Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã ban hành Công văn số 165/TAQTB gửi Ủy ban nhân dân Phường S, quận Tân Bình để xác định nguyên nhân tranh chấp ly hôn. Phúc đáp Công văn số 165/TAQTB, ngày 28/3/2023 Ủy ban nhân dân Phường S, quận Tân Bình đã có Công văn số 138/UBND cung cấp thông tin xác minh mâu thuẫn gia đình theo yêu cầu của Tòa án nhân dân.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thùy Minh N có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 22/5/2023 trình bày: Vẫn giữ yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với ông Đỗ Phạm Minh T và giao con chưa thành niên cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn ông Đỗ Phạm Minh T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình thụ lý giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ bản sao Sổ hộ khẩu số 31100102355 do Công an quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/4/2019, ông T đã đăng ký nhân khẩu thường trú tại địa chỉ Đường H, Phường S, quận Tân Bình. Bà N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn ông T có nơi cư trú tại quận Tân Bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 42, Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T1, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/12/2004, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thùy Minh N và ông Đỗ Phạm Minh T là hợp pháp.

Xét thấy, vợ chồng phải có trách nhiệm quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm tạo dựng hạnh phúc gia đình nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà N và ông T phát sinh mâu thuẫn mà theo bà N trình bày là do ông T thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con, từ đó dẫn đến quan hệ vợ chồng không hạnh phúc. Bà N xác định không còn tình cảm với ông Thiện, không còn khả năng hàn gắn quan hệ vợ chồng, yêu cầu xin được ly hôn.

Tại Công văn số 138/UBND ngày 28/3/2023 của Ủy ban nhân dân Phường S, quận Tân Bình cung cấp thông tin xác minh mâu thuẫn gia đình theo yêu cầu của Tòa án nhân dân quận Tân Bình như sau: “Quá trình chung sống, vợ chồng bà N và ông T đã phát sinh mâu thuẫn do ông T không có công ăn việc làm ổn định lại rượu chè cờ bạc nợ nần … nên áp lực lớn, lâu ngày sinh ra mâu thuẫn…”.

Tại phiên tòa hôm nay, ông T vẫn không có mặt để tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến cũng như quan điểm về tình trạng hôn nhân và bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Qua đó cũng đã chứng minh rằng ông T và bà N đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ, nên chấm dứt quan hệ hôn nhân của các đương sự theo yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp với pháp luật và thực tế để các bên ổn định đời sống.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Hoàng Minh T2, sinh ngày 08/5/2005 đã thành niên và Đỗ Hoàng Minh T3, sinh ngày 16/01/2013; cả hai đang sống với ông T. Bà N tự nguyện giao trẻ Thư cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà N yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên, ông T không có ý kiến phản hồi gì mặc dù đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Nguyệt.

Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Theo khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy Minh N về việc “Ly hôn”.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thùy Minh N được ly hôn với ông Đỗ Phạm Minh T.

1.2 Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Hoàng Minh T2, sinh ngày 08/5/2005 đã thành niên và Đỗ Hoàng Minh T3, sinh ngày 16/01/2013.

+ Bà N có trách nhiệm giao trẻ Đỗ Hoàng Minh T3 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.

+ Tạm hoãn nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung cho bà N do các bên không có yêu cầu.

+ Ông T có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho bà N đến thăm con chung.

+ Vì lợi ích của con chưa thành niên việc nuôi con và cấp dưỡng cho con có thể thay đổi.

1.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

1.4 Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0032117 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình. Đương sự đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.

5. Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị trong thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ