- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Đào Tú A-Lai Chuc H"
- Tòa quyết gì? 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 446/2020/HNGĐ-ST Ngày: 06-4-2020 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Quang Cảnh
2. Bà Lê Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 06 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2020/TLST-HNGĐ ngày 24/02/2020 về
việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1362/2020/QĐXXST-HNGĐ
ngày 19 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Đào Tú A, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: 310/37 Mã Lò, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Phòng 302, số 9 P, phường K, Quận M, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lai Chuc H, sinh năm 1966 (xin vắng mặt).
Quốc tịch: Hoa Kỳ.
Địa chỉ: 20 Chicopee St, Worcester, MA 01602-2806 USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/02/2020 và Bản tự khai ngày 16/3/2020 nguyên đơn bà
Nguyễn Đào Tú A trình bày:
Bà và ông Lai Chuc H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn do
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/3/2013, vào Sổ đăng ký kết hôn số 980 quyển số 05 ngày 05/4/2013. Sau khi kết hôn, vì tính chất công việc ông Lai Chuc H trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc, bà ở lại Việt Nam, hai bên ít liên lạc với nhau, tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lai Chuc H.
Về con chung: Bà và ông Lai Chuc H có 01 con chung tên Lai Quang
Minh B, sinh ngày 28/11/2013. Hiện nay trẻ Lai Quang Minh B đang sống cùng với bà. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi trẻ Lai Quang Minh B và yêu cầu ông Lai Chuc H cấp dưỡng nuôi con 7.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà xin vắng mặt khi tòa án giải quyết vụ án.
Tại Bản tự khai ngày 02/3/2020 bị đơn ông Lai Chuc H trình bày:
Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Đào Tú A vì hai bên sống xa cách, tình
cảm không còn.
Về con chung: Ông xác nhận có 01 con chung đúng như bà Nguyễn Đào
Tú A trình bày và hiện con đang sống cùng với bà Tú A. Ông đồng ý giao con chung tên Lai Quang Minh B cho bà Tú A nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 7.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông xin vắng mặt khi tòa án giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền của Tòa án:
Bà Nguyễn Đào Tú A là nguyên đơn hiện đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí
Minh, bị đơn ông Lai Chuc H cư trú tại Hoa Kỳ. Căn cứ Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Bà Nguyễn Đào Tú A và ông Lai Chuc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Đào Tú A, ông Lai Chuc H.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Đào Tú A và ông Lai Chuc H tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy
chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/3/2013, vào Sổ đăng ký kết hôn số 980 quyển số 05 ngày 05/4/2013 nên là hôn nhân hợp pháp.
Về yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Đào Tú A, Hội đồng xét xử
xét thấy:
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung được một thời gian thì phát sinh
mâu thuẫn do cách suy nghĩ và lối sống không hợp nhau. Nay bà Nguyễn Đào
Tú A xác nhận không còn tình cảm với ông Lai Chuc H nên yêu cầu Tòa án giải
quyết cho ly hôn, về phía ông Lai Chuc H cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của
bà Nguyễn Đào Tú A. Điều này cho thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc,
mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn
nhân và Gia đình, yêu cầu của bà Nguyễn Đào Tú A xin ly hôn ông Lai Chuc H
là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà Nguyễn Đào Tú A và ông Lai Chuc H có lời khai
thống nhất có 01 con chung tên Lai Quang Minh B, sinh ngày 28/11/2013. Xét,
bà Tú A và ông Lai Chuc H cùng thống nhất giao trẻ Lai Quang Minh B cho bà
Tú A trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lai Chuc H đồng ý cấp dưỡng nuôi con
7.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy sự thỏa thuận của các đương
sự về việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con là không trái quy định pháp luật,
do đó có cơ sở chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết,
Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí:
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Đào Tú A là nguyên đơn trong
vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về án phí cấp dưỡng: Ông Lai Chuc H chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 273, Điều
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều
111, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Đào Tú A và ông Lai Chuc H.
2. Về con chung:
Giao con chung tên Lai Quang Minh B, sinh ngày 28/11/2013 cho bà
Nguyễn Đào Tú A trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Lai Chuc H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ Lai Quang Minh B, sinh
ngày 28/11/2013 với mức cấp dưỡng 7.000.000 đồng/tháng cho đến khi trẻ Lai Quang Minh B thành niên.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Khi có căn cứ, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều
84 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp
dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Đào Tú A chịu 300.000 đồng án phí
sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0045704 ngày 21 tháng 02 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Đào Tú A đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Án phí cấp dưỡng: Ông Lai Chuc H chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM; - UBND TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Uyên |