vanban.org

Bản án 445/2022/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng K phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm tù tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 445/2022/HS-ST
Ngày: 24/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Huỳnh Tiến Dũng

2/ Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự thụ lý số 384/2022/TLST-HS ngày 14/10/2022 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 468/QĐXXST-HS ngày 08/11/2022 đối với bị cáo:

Lê Hoàng K; Sinh ngày 24/3/2000; Nơi sinh: tại tỉnh Vĩnh Long; Thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: A đường số B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Hoàng T và bà Trần Thị Mộng G; Tiền án: 01 tiền án theo Bản án số 121/2021/HS-ST ngày 21/5/2021, của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2021, chưa nộp án phí; Tiền sự: không; Nhân thân: Bị xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 76/2017/HSST ngày 22/12/2017, của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; Tạm giam, tạm giữ từ ngày: 20/6/2022.

Người bị hại:

1/. Anh Bùi Minh H, sinh năm 1997

Địa chỉ: A đường B, khu phố C, phường Long Trường, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt).

2/. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2000

Địa chỉ: A Đình Phong Phú, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng K nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài nên đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 04/6/2022, Lê Hoàng K mặc áo công nhân của công ty ACC đến công trình PALM, để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến nơi, K thấy nhiều xe mô tô để dưới khu nhà E, để tránh bị phát hiện, K đi lên tầng mái tòa nhà gặp một số công nhân đang làm việc ở đây (anh Xuân, Trường, Tuấn, An, Tùng, Hiếu), K giả vờ hỏi xe mô tô để dưới sân của ai để K đẩy xe ra cho xe chở bê tông vào đổ nhưng không ai nói gì nên K nói sẽ di dời xe để đổ bê tông. Sau đó, K đi xuống dắt xe mô tô hiệu Yamaha Exiter, màu xanh đen, biển số 94D1 – 548.11 của anh Bùi Minh Hiếu ra ngoài cổng thì gặp anh Trần Quang Linh là giám sát công trình, K nói là xe của K bị mất chìa khóa nhờ anh Linh dùng xe máy chạy đẩy giúp xe ra tiệm sửa xe Bảo Anh trên đường Nguyễn Duy Trinh để sửa, anh Linh tin tưởng nên giúp K đẩy xe ra tiệm xe máy Bảo anh rồi đi vào làm việc. Tại quán sửa xe Bảo Anh, K yêu cầu nhân viên phá khóa đấu dây điện nguồn công tắc để nổ máy nhưng không được vì là khóa điện tử. Sau đó K nhờ xe ôm đẩy xe về nhà K tại địa chỉ số 106 Đường số 8, phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức. Sau đó, K chụp ảnh chiếc xe đăng bán lên mạng xã hội Facebook tại trang “Hội mua bán xe noop, xe không giấy Thành phố Hồ Chí Minh” đồng thời liên hệ thợ sửa khóa xe để thay ổ khóa. Sau đó, có người gọi điện hỏi mua, K đồng ý bán. K dắt xe ra cách nhà 50m ngồi chờ thợ làm khóa đến thay ổ khóa hết 1.200.000 đồng. Sau khi thay khóa xong K đã gặp người đàn ông chưa rõ lai lịch mua xe trên tại hẻm 64 Đường số 11 (gần nhà K) và bán xe với giá 12.500.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, anh anh Bùi Minh Hiếu ra lấy xe về thì phát hiện xe đã bị mất nên anh Hiếu đến Công an phường Long Trường, thành phố Thủ Đức trình báo sự việc.

Vụ thứ 2: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 09/06/2022, K nhắn tin Zalo hẹn anh Nguyễn Văn Khánh ra quán cà phê Milano Hoàng Vương tại địa chỉ: B1.16 Đường số 1, Khu phố 4, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức để trả tiền nợ. Tại điểm hẹn trong quá trình nói chuyện K hỏi mượn xe máy hiệu Honda Sonic màu Trắng - Đỏ - Đen, biển số: 78F1- 471.80 của anh Khánh nói là về nhà lấy cục sạc pin. Anh Khánh đồng ý, K lấy xe đi rồi quay lại nói chuyện với anh Khánh. Sau đó K nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên nên khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, K giả vờ hỏi mượn xe mô tô của anh Khánh về nhà lấy chìa khóa, anh Khánh đồng ý giao xe cho K. Sau khi anh Khánh giao xe cho K điều khiển đến đường số 3, phường Phước Long B rồi dừng lại chụp ảnh chiếc xe đăng bán lên mạng xã hội Facebook tại trang “Hội mua bán xe noop, xe không giấy Thành phố Hồ Chí Minh”. Sau đó có người gọi điện hỏi mua xe và hẹn K đến bên cạnh nhà số 302 đường Nguyễn Văn Lượng, phường 16, quận Gò Vấp. Tại đây, K đã thỏa thuận và bán xe nêu trên với giá 16.000.000 đồng.

Sau khi biết K lấy xe đi và không quay lại và không liên lạc được, biết bị lừa, anh Khánh đã đến Công an phường Phước Long B trình báo. Sau đó, anh Khánh đăng thông tin lên mạng xã hội Facebook tại hội nhóm “Tôi là dân quận 9” để lại số điện thoại, nhờ cộng đồng mạng hỗ trợ tìm K.

Ngày 14/6/2022 có tài khoản Zalo “Út Nhỏ” kết bạn với K và hẹn K đến quán cà phê Bình Dương Xanh tại địa chỉ: 51 đường Phạm Ngọc Thạnh, phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương để gặp mặt. Sau đó tài khoản “Út Nhỏ” nhắn tin cho anh Khánh báo K đang ở địa chỉ trên. Anh Khánh đến thấy K nên báo Công an phường Hiệp Thành đưa K đến Công an phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức giải quyết. Các xe mô tô liên quan, K đã bán nên không thu hồi được.

Bản kết luận định giá về tài sản số 85-KV2/KLĐG-HĐĐGTS của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển số 94D1 – 548.11, màu xanh đen của anh Bùi Minh Hiếu có giá trị là 43.900.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 86-KV2/KLĐG-HĐĐGTS của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic, biển số: 78F1-471.80, màu trắng đỏ đen của Nguyễn Văn Khánh có giá trị là 40.600.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Lê Hoàng K đã Ki nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

- Số tiền 4.500.000 đồng (thu giữ của K là số tiền còn lại do bán xe mà có).

- 01 mũ bảo hộ lao động công nhân, màu trắng; 01 áo công nhân dài tay màu xanh da trời nhạt, trước ngực và sau lưng có phản quang màu cam.

Trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Minh Hiếu và anh Nguyễn Văn Khánh yêu cầu bị cáo trả lại xe mô tô trên, nếu không trả được yêu cầu K bồi thường theo kết quả định giá.

Tại bản Cáo trạng số 360/CT – VKS-TPTĐ ngày 13/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Lê Hoàng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Về mức hình phạt, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng K từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.

Đề nghị xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định.

Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, đồng ý bồi thường cho bị hại. Lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Căn cứ lời Ki nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 16 giờ, ngày 04/6/2022, Lê Hoàng K có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển số 94D1 – 548.11, màu xanh đen của anh Bùi Minh Hiếu có trị giá 43.900.000 đồng tại khu nhà E thuộc công trình PALM, đường Trường Lưu, khu phố Trường Lưu, phường Long Trường, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị nêu trên mà bị cáo thực hiện đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đến khoảng 11 giờ 20 phút ngày 09/6/2022, tại quán cà phê Milano Hoàng Vương, địa chỉ: B1.16 Đường số 1, Khu phố 4, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. K bằng thủ đoạn giả vờ hỏi mượn rồi chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sonic, biển số: 78F1-471.80, màu trắng đỏ đen có trị giá 40.600.000 đồng của anh Nguyễn Văn Khánh để đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và chiếc xe hiện không thu hồi lại được. Hành vi lừa dối để chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị nêu trên mà bị cáo thực hiện đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Những hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Đối với những người đã mua xe mô tô hiện chưa xác định được lai lịch. Đối với xe do bị cáo chiếm đoạt hiện chưa thu hồi lại được. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ xử lý sau.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích theo Bản án số 121/2021/HS-ST ngày 21/5/2021, của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Như vậy, bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp: “Tái phạm”. Ngoài ra, về nhân thân bị cáo bị xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 76/2017/HSST ngày 22/12/2017, của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để áp dụng hình phạt nghiêm, mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Chấp nhận yêu cầu của người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo giá trị tài sản được định giá.

- Tịch thu số tiền 4.500.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho các bị hại.

- Tịch thu tiêu hủy đối với số vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng K phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng K: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm tù tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2022.

2- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Buộc bị cáo Lê Hoàng K bồi thường cho Anh Bùi Minh Hiếu số tiền 43.900.000 (Bốn mươi ba triệu, chín trăm nghìn) đồng.

- Buộc bị cáo Lê Hoàng K bồi thường cho Anh Nguyễn Văn Khánh số tiền 40.600.000 (Bốn mươi triệu, sáu trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên bị thi hành án chưa thi hành, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

- Tịch thu số tiền 4.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Hoàng K để đảm bảo thi hành án cho các bị hại (Theo Ủy nhiệm chi ngày 24/11/2022 và Biên lai thu tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 mũ bảo hộ lao động công nhân, màu trắng; 01 áo công nhân dài tay màu xanh da trời nhạt, trước ngực và sau lưng có phản quang màu cam.

(Theo phiếu nhập kho số NK23/052C ngày 24/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

3- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án để tính án phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.225.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ