vanban.org

Bản án 445/2018/HC-PT — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/05/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Văn L - Ủy ban nhân dân xã C, huyện D"
  • Căn cứ chính? Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số:!445/2018/HC-PT
Ngày: 08/5/2018

V/v khiếu kiện hành vi hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai!

NHÂN!DANH!!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Trần Mỹ Cúc""

Các"Thẩm"phán:"""

1. Bà Đỗ Thị Kim Phượng

2. Ông Nguyễn Hữu Thơ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoài Phương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Tôn

Mạnh Hùng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa

Ngày 08 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 77/2017/TLPT-HC

ngày 09 tháng 11 năm 2017 về "Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực

quản lý đất đai”

Do Bản án hành chính số 06/2017/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của

Tòa án nhân dân huyện D bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1119/2018/QĐPT-HC ngày 14

tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2165/QĐHC-PT ngày 09

tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các

đương sự:

1."Người"khởi"kiện:"Ông Lê Văn L., sinh năm 1951

Cư trú: 23/22 Đinh Tiên Hoàng, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh

2."Người"bị"kiện: Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, Thành phố Hồ Chí Minh

Trụ sở: Ấp Chợ, Trung An, xã C, huyện D, Thành phố Hồ Chí Minh

-"Người"đại"diện"theo"pháp"luật: Ông Lê Trí D. - Chủ tịch (Có mặt)

3."Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"

Bà Hồ Như Th. - Cán bộ Địa chính – Xây dựng (Vắng mặt)"

4."Người"kháng"cáo:"Ông Lê Văn L. (Có mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Đơn"khởi"kiện"gửi"ngày"15"-"21/02/2017;"Bản"tự"khai"ngày"09/02"–"02"và" 30/8/2017,"người"khởi"kiện"trình"bày:

Nguồn gốc căn nhà số 1048 ấp Thạnh An, Xã C , huyện D (gọi tắt căn nhà

số 1048) có diện tích xây dựng 180m2 là của ông Lê Văn L. sử dụng ổn định từ năm 1974, không tranh chấp, chính quyền địa phương xác nhận.

Năm 2007 và 2009, ông Lê Văn L. nộp hồ sơ xin hợp thức hóa nhà đất nêu

trên cho bà Hồ Như Th. là cán bộ địa chính - Ủy ban nhân dân (gọi tắt UBND) Xã C , huyện D nhưng cố tình không giải quyết mặc dù đã liên tục khiếu nại nhiều nơi, nhiều cấp. Tòa án nhân dân huyện D ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 06/2016/QĐST-HC ngày 14/4/2016 vì thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 1003/2016/QĐ-PT ngày 31/8/2016 do ông Lê Văn L. rút yêu cầu kháng cáo.

Ngày 05/10/2016, ông Lê Văn L. nộp lại hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất và nhà với diện tích 653,8m2 thửa 89, tờ bản đồ số 42 tại căn nhà số 1048, nhưng UBND Xã C , huyện D không giải quyết. Do đó, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện D giải quyết tuyên hành vi của UBND Xã C , huyện D chậm trả lời kết quả hồ sơ là trái pháp luật.

Bản"tự"khai"ngày"25/4/2017,"người"bị"kiện"trình"bày:"

Ngày 05/10/2016, UBND Xã C , huyện D cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ của

ông Lê Văn L. nộp bao gồm: Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Phiếu lấy ý kiến khu dân cư, các bản sao y như: Bản vẽ hiện trạng ngày 26/7/2008; Quyết định cấp số nhà và Giấy chứng nhận số CH01170 ngày 02/02/2012; giấy xác nhận bán nhà; Tờ cam kết và bản photo Biên lai thu thuế nhà đất năm 2011. Đồng thời, hẹn trả kết quả vào ngày 02/11/2016.

Ngày 07/10/2016, UBND Xã C ban hành Công văn số 948/UBND về việc

không giải quyết phần diện tích 653,8m2 do Trung tâm Phát triển Qũy đất Thành phố Hồ Chí Minh quản lý và đề nghị liên hệ Sở Tài nguyên – Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng phần diện tích 300m2 ông Lê Văn L. được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01770 ngày 02/02/2012 theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 2766/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hồ Chí Minh.

Qúa trình giải quyết, UBND Xã C mời nhiều lần nhưng ông Lê Văn L.

không đến nhận việc trả kết quả. Ông Lê Văn L. đã nhận Thông báo số 884/TB-UBND ngày 19/7/2017 của UBND Xã C , huyện D và có nhận sai sót việc gửi Công văn số 948/UBND ngày 07/10/2016 là nhầm địa chỉ. Do đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Lắm.

Bản"tự"khai"ngày"21/8/2017,"bà"Hồ"Như"Th."trình"bày:

Bà Hồ Như Th. là công chức Địa chính – Xây dựng Xã C , huyện D theo

Quyết định số 5480/QĐ-UBND ngày 13/11/2007 của Chủ tịch UBND huyện D có nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn L. vào ngày 05/10/2016. Qui trình thủ tục tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo pháp luật qui định và thống nhất lời trình bày của đại diện người bị kiện.

Qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối

thoại không thành lập vào các ngày 23/5; 20/7 và 21/8/2017, Tòa án nhân dân huyện D tuyên xử bác yêu cầu của ông Lê Văn L. tuyên bố hành vi hành chính

chậm trả lời kết quả hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và

quyền sở hữu nhà ở của Ủy ban nhân dân Xã C , huyện D là trái pháp luật.

Ngoài ra, còn tuyên án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 09/10/2017, ông Lê Văn L. gửi đơn kháng cáo về hình thức ban hành

Quyết định hoãn phiên tòa số 325/2017/QĐST-HC ngày 22/9/2017; về phiên tòa

ngày 29/9/2017 xét xử trong tình trạng sức khỏe không tốt, và nội dung bản án

đã tuyên.

Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm,"

Ông Lê Văn L. yêu cầu triệu tập người làm chứng và đề nghị Hội đồng xét

xử tuyên chấp nhận yêu cầu kháng cáo về sửa án do UBND Xã C chậm trả kết

quả xin cấp quyèn sử dụng đất 653,8m2 đã nộp ngày 05/10/2016.

Đại diện Viện kiểm sát nêu hành vi tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét

xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng qui định. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên

không chấp nhận yêu cầu kháng cáo vì UBND Xã C , huyện D đã thực hiện

đúng thời hạn trả kết quả nhưng ông Lê Văn L. không đến nhận. Riêng hình

thức văn bản có sai nhưng không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án và cả lý do

xin hoãn phiên tòa ngày 29/9/2017 được xem là không chính đáng.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và căn

cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Xét Đơn của người kháng cáo gửi trong hạn luật định, nên chấp nhận.

[2] Xét đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa của đại diện người bị

kiện và bà Hồ Như Th. phù hợp khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính năm

2015, nên chấp nhận.

[3] Xét lời trình bày của ông Lê Văn L. cho rằng do sức khỏe không tốt nên

đề nghị hoãn phiên tòa ngày 29/9/2017 (lần thứ hai) nhưng không cung cấp hồ

sơ bệnh lý chứng minh là không có căn cứ, vì không thuộc trường hợp qui định

tại khoản 2 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Mặt khác, tại phiên

tòa này, ông Lê Văn L. còn nêu lý do hoãn là cần phải nhờ người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp là không có căn cứ, bởi suốt quá trình tham gia tố tụng

không có yêu cầu này.

[4] Xét lời trình bày của ông Lê Văn L. cho rằng cấp sơ thẩm ban hành

Quyết định hoãn phiên tòa số 325/2017/QĐST-HC ngày 22/9/2017 ghi “Hoãn

phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình” và “Phiên tòa hôn nhân gia

đình ... ngày 29/9/2017” là có sai sót về do lỗi kỹ thuật soạn thảo văn bản nhưng

không ảnh hưởng nội dung vụ án nên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[5] Đối với yêu cầu của ông Lê Văn L. đề nghị triệu tập người làm chứng

tham gia phiên tòa là không cần thiết vì nội dung yêu cầu khởi kiện về hành vi

hành chính của UBND Xã C , huyện D chậm trả kết quả hồ sơ, chứ không phải

là việc khởi kiện có liên quan đến cấp đất hay không cấp đất để chứng minh cho

nguồn gốc sử dụng đất của ông Lê Văn Lắm, nên cấp sơ thẩm không chấp nhận

yêu cầu này là có căn cứ.

[6] Cấp sơ thẩm đã xem xét việc giải quyết hồ sơ của UBND Xã C , huyện

D theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả ngày 05/10/2016 qua các Công văn như: số 1194/UBND ngày 30/11/2016; số 500/UBND ngày 11/5/2017; số 606/UBND ngày 05/6/2017 và số 8541/UBND ngày 12/7/2017 cùng một nội dung là “ ... mời ông Lê Văn L. đến bộ phận tiếp nhận hồ sơ nhận lại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đã nộp ngày 05/10/2016, nhưng ông Lê Văn L. không đến. Tại phiên tòa, ông Lê Văn L. xác định đã nhận Thông báo số 884/TB-UBND ngày 19/7/2017 về giải quyết đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận đã nộp ngày 05/10/2016 nên UBND Xã C , huyện D đã thực hiện đúng qui định khoản 2 Điều 60 Nghị định sô 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Do đó, việc chậm trả hồ sơ như ông Lê Văn L. trình bày là không thuộc lỗi của người bị kiện nên cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, nên giữ nguyên.

[7] Cấp sơ thẩm tuyên ông Lê Văn L. chịu án phí sơ thẩm cũng như cho

nộp tạm ứng án phí sơ thẩm, phúc thẩm là không đúng qui định, nên cần phải sửa án vì thuộc trường hợp miễn nộp án phí. Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu lực pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ Điều 241 và Điều 242 Luật Tố tụng hành chính năm 2015,

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn L. và sửa một

phần Bản án số 06/2017/HC-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện D , Thành phố Hồ Chí Minh về phần án phí.

2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L. yêu cầu tuyên bố hành vi

hành chính chậm trả lời kết quả hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của Ủy ban nhân dân Xã C , huyện D , Thành phố Chí Minh theo giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả ngày 05/10/2016 là trái pháp luật.

3. Về án phí hành chính:

Ông Lê Văn L. miễn nộp án phí sơ thẩm, phúc thẩm và được nhận lại tổng

số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) theo các Biên lai thu số 06366 ngày 10 tháng 4 năm 2017 và số 07408 ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D , Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án./.

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM

Cỡ chữ