- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng M - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 444/2026/HSST Ngày 21/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyên;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Ngọc San
Ông Trần Văn Ba
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 7 – Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên. Ngày 21/8/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 462/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 450/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng M, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Thẻ CCCD số: 001094009370; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã P, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Con ông: Không xác định; Con bà: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa;
Tiền án:
- Bản án số 18/2017/HSST ngày 07/3/2017 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 108/2019/HSST ngày 30/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Bản án số 59/2022/HSST ngày 09/5/2022 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 24/3/2013 công an huyện Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính 375.000đ về hành vi đánh nhau.
Năm 2013, UBND huyện Đ ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng.
Năm 2021, công an huyện Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000đ về hành vi xâm hại sức khoẻ người khác. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H từ ngày 07/3/2026 đến nay, có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Duy K, sinh năm 1996 Nơi cư trú: Thôn D, xã P, thành phố Hà Nội (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 40 phút ngày 02/4/2024, tổ công tác Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội kiểm tra hành chính nhà nghỉ 68 do anh Bùi Anh T (sinh năm: 1977; HKTT: thôn K, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội) làm chủ cơ sở phát hiện tại phòng 301 của nhà nghỉ có 01 nam giới đang thuê phòng có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện dưới gầm giường trong phòng có 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 17,5cm trên mặt đĩa có: 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm; 01 thẻ cứng màu đỏ và 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000VND. Nam giới khai là Ngô Duy K – sinh năm 1996 ở thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là thôn D, xã Đ, thành phố Hà Nội). K thuê phòng để sử dụng ma tuý.
Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa K cùng vật chứng về trụ sở để điều tra làm rõ.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Ngô Duy K
01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 17,5cm
01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm;
01 thẻ cứng màu đỏ.
01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000VND.
01 bật lửa gas.
Ngoài ra cơ quan công an còn thu giữ của Ngô Duy K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp kèm sim số thuê bao: 0978291996.
Giám định số vật chứng thu giữ của Ngô Duy K, ngày 11/4/2024, Phòng K3 - Công an thành phố H kết luận số 2573 kết luận :
- 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 17,5cm, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 thẻ cứng màu đỏ và 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000VND đều có dính ma túy loại Ketamine.
Tại cơ quan điều tra Ngô Duy K khai nhận: Khoảng hơn 20 giờ ngày 01/4/2024, khi K đang ngồi uống nước cùng Nguyễn Văn C (sinh năm: 1994; Chỗ ở: Tổ B, TT Đ, huyện Đ, Hà Nội), K sử dụng số thuê bao 0978291996 của K gọi đến số thuê bao 0986835434 của một nam giới tên M khoảng 30 tuổi nhà ở thôn T, xã T, huyện Đ, Hà Nội đặt vấn đề mua của M 3.000.000đ tiền ma túy loại ketamine. M đồng ý, yêu cầu K chuyển khoản tiền mua ma túy cho M. M nhắn tin cho K số tài khoản 1022575065 tại Ngân hàng N (V) mang tên “NGUYEN HONG MINH”. Sau đó K sử dụng tài khoản số 3886868655555 tại Ngân hàng Q1 (M1) của K và chuyển cho M 3.000.000đ vào tài khoản 1022575065 của M. Sau khi nhận được tiền, M hẹn K đến nhà của M nhận ma túy. Sau khi thoả thuận, K nhờ Nguyễn Văn C – sinh 1994 ở tổ A, thị trấn Đ, huyện Đ, TP Hà Nội nay là tổ A xã P, thành phố Hà Nội nhờ chở đi có việc và bảo C chở đi đến cổng nhà M. K đi vào gặp M. M chỉ tay về cột điện sát cổng nhà M và nói “hàng ở gói giấy ăn để ở cột điện” sau đó M đi vào nhà còn K đến cột điện nơi M chỉ, lấy 01 gói giấy bằng giấy ăn bên trong có 01 túi nilon chứa ma túy. K cầm gói ma tuý, đi ra xe cùng C đi về. Sau khi mua được ma túy, K mang ma tuý về nhà K, bỏ một ít ma túy ra một mình sử dụng phần còn lại cất đến sáng ngày 02/4/2024, K mang đến nhà nghỉ F thuê phòng 301 sử. Khi K vừa sử dụng ma tuý xong thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt giữ.
Căn cứ lời khai của Ngô Duy K, ngày 02/4/2024, cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Nguyễn Văn C đến trụ sở để làm việc. Tại cơ quan điều tra C khai nhận phù hợp với lời khai của Ngô Duy K và các tài liệu điều tra đã thu thập được. Tối ngày 01/4/2024 khi đang ngồi uống nước cùng K, C thấy K gọi điện thoại cho ai đó đặt mua “1 chỉ” và chuyển khoản số tiền 3.000.000đ cho ai đó. Sau đó K nhờ C chở đến thôn T, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội và gặp một nam giới khoảng 30 tuổi đang ngồi ở cổng nhà (không biết họ tên cụ thể). Sau đó C thấy người nam giới này chỉ vào cột điện gần nơi anh ta đang ngồi và bảo K “hàng đang ở trên cột điện” rồi người này đi vào trong nhà, K đi ra lấy vật gì đó trên cột điện rồi bảo C đi về. Khi về gần đến nhà K do C có việc bận nên đi về nhà còn K đi đâu C không biết. Đến ngày 02/4/2024, khi C đang ở nhà thì cơ quan điều tra triệu tập đến trụ sở để làm việc. Ngày 01/4/2024, C không biết K đặt mua gì và không biết mục đích K nhờ chở đến thôn T, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội gặp nam giới kể trên để làm gì.
- Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Ngô Duy K cho kết quả dương tính với ma túy ketamine.
- Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Văn C cho kết quả âm tính với chất ma túy.
Tiến hành dẫn giải các đối tượng Ngô Duy K và Nguyễn Văn C đi xác định ngôi nhà nơi K đã đến mua ma túy của người nam giới tên M. Kết quả K và C xác định ngôi nhà trên là nhà ở của Nguyễn Hồng M – sinh năm: 1994; HKTT và chỗ ở: T, T, Đ, Hà Nội.
Tiến hành xác minh lý lịch và thu thập ảnh của Nguyễn Hồng M cho Ngô Duy K và Nguyễn Văn C nhận dạng. Kết quả:
- Ngô Duy K xác định Nguyễn Hồng M chính là người bán ma túy cho K vào ngày 01/4/2024.
- Nguyễn Văn C xác định Nguyễn Hồng M chính là nam giới K nhờ C chở đến gặp vào tối ngày 01/4/2024 tại T, T, Đ, Hà Nội.
Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, ngày 03/4/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Đ đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp người, nơi ở, đồ vật, tài liệu tại thôn T, xã T, huyện Đ, Hà Nội đối với Nguyễn Hồng M (có lý lịch nêu trên) về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Cùng ngày, Cơ quan điều tra thi hành lệnh khám xét, tại thời điểm thi hành lệnh khám xét có bà Nguyễn Thị Y (sinh năm: 1963; HKTT: Trung Oai, T, Đ, Hà Nội - nay là thôn T, xã P, thành phố H) là mẹ đẻ của Nguyễn Hồng M đang ở nhà. Quá trình khám xét Cơ quan điều tra đã phát hiện thu giữ:
* Tại phòng ngủ của Nguyễn Hồng M:
- Trong ruột gối để trên mặt đệm ngủ trong phòng có 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (6x9,5)cm bên trong có:
+ 03 (ba) túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.
+ 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (5x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
+ 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước(6x9)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- Trên mặt đệm có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, dài 15cm đã qua sử dụng.
- Dưới phản trong phòng có 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm bên trong có 09 (chín) viên nén hình tròn màu hồng.
- Trên kệ tivi trong phòng có 01 (một) tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền 10.000đ.
- Dưới nền trong phòng có:
+ 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (4x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
+ 01 cân điện tử dạng chuột máy tính màu đen, trên mặt có ký hiệu Mouse Scale đã qua sử dụng.
+ 01 (một) đĩa sứ hình tròn, đường kính 18cm đã qua sử dụng.
* Trong ngăn kéo tủ cạnh kệ tivi ở phòng khách nhà Nguyễn Hồng M có 100 túi nilon kích thước (3x3)cm đều chưa qua sử dụng.
Tổ công tác đã lập biên bản khám xét, niêm phong vật chứng và mời bà Nguyễn Thị Y cùng những người chứng kiến về trụ sở làm việc.
Giám định số vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Hồng M, ngày 12/4/2024 Phòng K3 công an thành phố H có kết luận số 2593 Kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 06 túi nilon có tổng khối lượng: 10,198 gam đều là ma túy loại Methamphetamine.
- 09 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilon có tổng khối lượng: 0,907 gam đều là ma túy loại Methamphetamine.
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín một đầu và 01 cân điện tử dạng chuột máy tính màu đen có ký hiệu Mouse Scale đều có dính ma túy loại Methamphetamine.
- 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền 10.000đ và 01 đĩa sứ hình tròn đường kính 18cm đều có dính ma túy loại Ketamine.
Xác minh tài khoản 1022575065 mở tại ngân hàng V xác định: tên tài khoản là Nguyễn Hồng M – có địa chỉ tại T, Đ, Hà Nội – CMND 00109 4009 370 sinh ngày 05/9/1994, số điện thoại 0989956 195. Có việc chuyển khoản từ tài khoản của K đến M là 3.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Y và anh Nguyễn Hồng Q (anh trai M) xác định M sử dụng số điện thoại 0986835434 ngoài ra không có số nào khác.
Ngày 3/4/2024 Cơ quan điều tra khởi tố vụ án Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra M bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đối với M. Ngày 04/10/2024 cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với M do chưa bắt được bị can.
Ngày 07/3/2026 Cơ quan công an bắt được M.
Tại cơ quan điều tra M khai nhận hành vi phạm tội như nội dung như đã nêu trên. Nguồn gốc ma tuý cơ quan điều tra thu giữ là của M mua của 01 nam giới không quen biết tại khu vực cầu N ngày 27/3/2024 với giá 5.000.000 đồng gồm ma tuý Đá, Hồng phiến và K1 sau đó mang về nhà cất để bán kiếm lời. Ngày 01/4/2024 M đã bán cho K 3.000.000 đồng tiền ma tuý loại Ketamine. M không biết tên, tuổi địa chỉ của người bán. Sau khi bỏ trốn M đi lang thang, không có nơi cư trú ổn định.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Tại bản cáo trạng số 186/CT-VKS ngày 21/7/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng; sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
+ Xử phạt Nguyễn Hồng M từ 08 năm đến 09 năm tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng:
+ Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong có lắp sim điện thoại số 0978291996; 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
+ Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 17,5cm
- 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm;
- 01 thẻ cứng màu đỏ.
- 01 bật lửa gas.
- 03 (ba) túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (5x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước(6x9)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, dài 15cm đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm bên trong có 09 (chín) viên nén hình tròn màu hồng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (4x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 cân điện tử dạng chuột máy tính màu đen, trên mặt có ký hiệu Mouse Scale đã qua sử dụng.
- 01 (một) đĩa sứ hình tròn, đường kính 18cm đã qua sử dụng.
- 100 túi nilon kích thước (3x3)cm đều chưa qua sử dụng.
- 01 gối tựa.
Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền do phạm tôi mà có là 3.000.000 đồng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 21 giờ 20 ngày 01/04/2025 Nguyễn Hồng M đã có hành vi bán 3.000.000 đồng ma tuý loại Ketamine cho Ngô Duy K tại thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là xã P, thành phố Hà Nội).
Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nhà M 11,105 gam ma tuý loại Methamphetamine M khai mua để bán.
Tại bản án số 59/2022/HSST ngày 09/5/2022 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bản án này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, bị cáo đã chấp hành xong nhưng chưa được xoá án tích nên bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây là tình tiết định khung theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho các đối tượng mua bán, sử dụng ma túy khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Do đó, cần xét xử hành vi của bị cáo thật nghiêm minh mới có tác dụng răn đe bị cáo và góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nhận thức được hành vi sai trái của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.
Về tính chất mức độ phạm tội: Tội bị cáo phạm phải là loại tội rất nghiêm trọng.
Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị đưa ra xét xử và có nhiều hành vi vi phạm pháp luật điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật.
Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Hồng M, tại cơ quan điều tra M khai mua của một người nam giới M không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này ở đâu, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Đối với Ngô Duy K có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 01/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ, thành phố Hà Nội đã có quyết định số 462 xử phạt hành chính đối với Nguyễn Duy K2. [5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, khó khăn về kinh tế nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
+ Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong có lắp sim điện thoại số 0978291996; 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
+ Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 17,5cm
- 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm;
- 01 thẻ cứng màu đỏ.
- 01 bật lửa gas.
- 03 (ba) túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (5x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước(6x9)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, dài 15cm đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm bên trong có 09 (chín) viên nén hình tròn màu hồng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (4x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 cân điện tử dạng chuột máy tính màu đen, trên mặt có ký hiệu Mouse Scale đã qua sử dụng.
- 01 (một) đĩa sứ hình tròn, đường kính 18cm đã qua sử dụng.
- 100 túi nilon kích thước (3x3)cm đều chưa qua sử dụng.
- 01 gối tựa.
Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền do phạm tôi mà có là 3.000.000 đồng.
Các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Hồng M 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2026. 3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89; 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong có lắp sim điện thoại số 0978291996; 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
+ Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 17,5cm
- 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm;
- 01 thẻ cứng màu đỏ.
- 01 bật lửa gas.
- 03 (ba) túi nilon màu trắng kích thước (4x7)cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (5x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước(6x9)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, dài 15cm đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (3x3)cm bên trong có 09 (chín) viên nén hình tròn màu hồng.
- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước (4x7)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 cân điện tử dạng chuột máy tính màu đen, trên mặt có ký hiệu Mouse Scale đã qua sử dụng.
- 01 (một) đĩa sứ hình tròn, đường kính 18cm đã qua sử dụng.
- 100 túi nilon kích thước (3x3)cm đều chưa qua sử dụng.
- 01 gối tựa. (Tình trạng vật chứng như phiếu nhập kho vật chứng số 58 ngày 26/4/2024)
+ Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền do phạm tôi mà có là 3.000.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. N¬i nhËn:
| - VKSND TP.Hµ Néi; - TAND TP.Hµ Néi; - C«ng an TP.HN; - THADS TP.HN; - VKSND KV7-HN; - Người tham gia tố tụng - L u HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuyên |