vanban.org

Bản án 444/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H tù chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2023. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc Hòa - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 444/2025/HS-ST
Ngày: 13-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;

Bà Đoàn Kim Bình;

Bà Từ Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Minh Như - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07 và 13 tháng 8 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3923/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Ngọc H, sinh năm 1992 tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp x, xã Hoà Mỹ, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Phụng Hiệp, Thành phồ Cần Thơ); nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 7 năm 2023 cho đến nay tại Trại Tạm giam số 02 Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Trần Vân A - Luật sư Công ty Luật sư TNHH Z thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Min, có mặt.

- Bị hại: Bà Mai Thị L, sinh năm 1988 (đã chết);

Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

1. Ông Mai Văn Ơ, sinh năm 1957;

2. Bà Trần Thị Mười, sinh năm 1958;

Cùng nơi cư trú: ấp X, xã Vị Thắng, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Vị Thủy, Thành phố Cần Thơ).

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Mai Văn Ơ và bà Trần Thị Mười: bà Mai Thị Tím, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp X, xã Vị Thắng, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Vị Thủy, thành phố Cần Thơ), có mặt.

3. Cháu Mai Ngô Thiên Hưởng, sinh ngày 31/10/2016; nơi cư trú: ấp T, xã Vị Thắng, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Vị Thủy, thành phố Cần Thơ).

Người giám hộ của cháu Hưởng: Ông Mai Văn Ơ, sinh năm 1957 và bà Trần Thị M, sinh năm 1958; nơi cư trú: ấp X, xã Vị Thắng, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Vị Thủy, thành phố Cần Thơ). Người đại diện theo uỷ quyền của ông Ơ, bà Mười: bà Mai Thị Tím, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp X, xã Vị Thắng, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Vị Thủy, thành phố Cần Thơ), có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 1991, nơi thường trú: làng Y, xã Trường Sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá (nay là xã Trường Văn, tỉnh Thanh Hóa); nơi cư trú : khu phố Bình Thuận 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là phường Thuận An, thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.

2. Võ Văn H, sinh năm 1970; nơi cư trú: 639/3 khu phố Thạnh Bình, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là phường Thuận An, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.

3. Ông Phan Văn L, sinh năm 1997; nơi cư trú: ấp Mương Đào, xã Hoà Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay là xã Hòa Thuận, tỉnh An Giang); có mặt;

4. Ông Nguyễn Phi C, sinh năm: 1983; nơi cư trú: lô E50, KQH Tô Hiến Thành, phường 3, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là phường Xuân Hương

- Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng); vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Mai Thị Tím, sinh năm 1985; có mặt.

2. Bà Mai Thị Nể, sinh năm 1980; có mặt.

3. Ông Lê Công Hưởng, sinh năm 1984; vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Minh Khánh, sinh năm 1998; vắng mặt.

5. Ông Lê Văn C, sinh năm 1995, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Ngọc Hoà và bà Mai Thị L có quan hệ tình cảm, sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2019. Đến khoảng tháng 5/2023, hai người chia tay không sống chung nên bà L đến ở cùng với hai chị gái là Mai Thị Nể và Mai Thị Tím, ba chị em cùng buôn bán tại nhà số 605/3, khu phố Thạnh Bình, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là phường Thuận An, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong thời gian này, bà L có tình cảm với người đàn ông khác nên giữa H và L xảy mâu thuẫn.

Khoảng 11 giờ ngày 28/7/2023, trong lúc uống rượu cùng bạn tại phòng số 4, nhà trọ không tên tại khu dân cư Thuận Giao, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là phường Thuận An, Thành phố Hồ Chí Minh), H thấy hình ảnh bà L đang nằm ôm một người đàn ông trẻ tuổi đăng trên mạng xã hội Facebook nên H rất tức giận, suy nghĩ sẽ lấy dao đi tìm chém bà L và người đàn ông đó. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H đi về phòng trọ số 6 của mình (cùng dãy trọ với phòng đang ngồi nhậu) gọi điện cho ông Phan Văn L nhờ tìm người chở H đi cầm điện thoại và qua phòng trọ của bà L để nói chuyện. Khoảng 05 phút sau, ông Lạt điều khiển xe mô tô đến phòng trọ số 6 chở H đến tiệm cầm đồ Tiến Phát tại số A14/13B, khu phố Bình Thuận 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương cầm điện thoại Samsung được 300.000 đồng, xong ông Lạt chở H về phòng trọ rồi ông Lạt đi về.

Do bận công việc khác, ông Lạt gọi cho ông Nguyễn Thành Nghĩa, sinh năm 2001, nơi thường trú: Xã Bình Thủy, huyện C Phú, tỉnh An Giang (hiện không rõ ở đâu, làm gì) nhờ chở Hoà đi công việc thay ông Lạt. Đến khoảng gần 16 giờ cùng ngày, ông Nghĩa điều khiển xe mô tô Dream, biển số 38D1-168.29 đến phòng trọ của H nói là bạn của ông Lạt đến chở H đi công việc. Lúc này, H vào trong phòng trọ lấy 01 dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 30cm, bản rộng 10cm, loại dao chặt xương đã mua sử dụng từ lâu để ở vị trí nấu ăn, H mặc áo thun ngắn tay màu trắng, quần Jean dài màu xanh, mặc áo khoác Jean màu xanh, mang dép quai kẹp màu xanh và đội nón bảo hiểm màu đen sau đó giấu con dao vào trong áo khoác Jean rồi H ra ngoài phòng để ông Nghĩa chở đi tìm bà L, khi đi H không nói cho ông Nghĩa biết có giấu dao trong người và qua tìm bà L để làm gì. Khi vừa ra khỏi phòng trọ, H thấy ông Lạt cũng vừa điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario màu xanh, biển số 68G1-035.79 chở theo ông Nguyễn Minh Khánh, sinh năm 1998, nơi thường trú: Thôn Phước Lợi, xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đến trước phòng trọ của H. Ông Lạt muốn đi theo H đến phòng trọ của L nhưng H không đồng ý. Lúc này, ông Nghĩa điều khiển xe môtô biển số 38D1 - 168.29 chở H chạy trước, còn ông Lạt tự ý, âm thầm chở ông Khánh chạy theo phía sau theo dõi.

Khoảng 10 phút sau, tất cả đi đến chỗ buôn bán của bà L tại số 605/3, khu phố Thạnh Bình, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Ông Nghĩa điều khiển xe chở H dừng lại bên lề đường cạnh sạp trái cây trước phòng trọ củabà L, ông Lạt và ông Khánh dừng xe phía sau cách khoảng 02 mét. Lúc này, H một mình xuống xe đi bộ đến vị trí bà L đang ngồi cách vị trí dừng xe khoảng 02 mét. Thời điểm này, bà Tím đang ngồi bán trái cây cạnh bà L. Khi vừa thấy H áp sát, bà L quay lưng định chạy vào trong phòng trọ thì H đưa tay phải vào áo khoác lấy dao ra chém một nhát vào vùng đầu sau của bà L. Bà L chạy vào trong phòng trọ thì bị vấp té xuống nền nhà, người ngửa lên trên, H tiếp tục lao tới chém liên tiếp 03 nhát vào vùng cổ và tay của bà L. Sau đó, H chạy ra xe mô tô chỗ ông Nghĩa đang đứng chờ sẵn bên ngoài chở đi tẩu thoát. Bà L được người thân đưa đi cấp cứu tại Phòng khám Thủ Khoa Huân tại phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhưng đã tử vong trước khi đưa vào phòng khám.

Sau khi sự việc xảy ra, ông Lạt chở ông Khánh về phòng trọ, rồi ông Lạt đi nhậu với bạn, đến hôm sau ông Lạt và ông Khánh đến Công an phường Thuận Giao trình báo sự việc. Nghĩa chở H về phòng trọ, H đi vào trong phòng cất dao vừa dùng chém bà L ở vị trí bếp nấu ăn. Cất dao xong, H ra ngoài thì ông Nghĩa hỏi: “Sao anh kêu em chở đi nói chuyện mà lại đi chém người”, H trả lời: “Tao nói mày chở tao đi chém người sao mày dám chở”. Sau đó, ông Nghĩa bỏ chiếc xe môtô lại đi bộ rời khỏi phòng trọ của H. Khoảng 10 phút sau, H điều khiển xe đi lang thang không xác định địa điểm đến 05 giờ ngày 29/7/2023, H đến Công an phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu để đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Công an phường Mỹ Xuân thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương tiếp nhận đối tượng để thụ lý, điều tra.

* Các vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) đầu ghi camera hiệu UB Vision, màu đen;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia model TA-1203, màu đen;

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 68G1-035.79;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Prime, màu trắng;

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, 01 (một) quần Jean dài màu xanh, 01 (một) đôi dép quai kẹp màu xanh, 01 (một) áo khoác Jean màu xanh, 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, 01 (một) xe mô tô hiệu Dream, màu đen, biển số 38D1-168.29;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen (bút lục số 74-75).

Đối với 01 (một) dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 30cm, bản rộng 10cm, loại dao chặt xương mà Võ Ngọc Hoà sử dụng gây án. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương không thu giữ hung khí này nên đã tiến hành ghi lời khai và cho bị cáo Võ Ngọc Hoà vẽ lại vật chứng trên.

* Kết luận giám định:

- Kết luận giám định pháp y tử thi số: 594 ngày 07/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận nguyên nhân chết của bà Mai Thị L như sau:

Dấu vết chính qua giám định:

+ Đỉnh, chẩm trái đầu có vết đứt da cơ, đứt xương sọ sắc gọn.

+ Vùng cổ phải và giữa cổ, cằm có vết đứt da cơ sắc gọn.

+ Đứt vỡ xương sọ vùng chẩm, đỉnh trái, xuất huyết dưới nhện vùng chẩm trái.

+ Đứt cơ ức đòn chủm, cơ giáp móng, thanh khí quản.

+ Đứt rời động mạch cảnh chung phải.

- Kết luận giám định mô bệnh học số 213.23 ngày 07/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương như sau:

+ Tụ máu, mất liên tục cơ vùng cổ.

+ Khí quản mất liên tục.

+ Động mạch cảnh tụ máu, mất liên tục.

+ Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.

- Kết luận giám định số: 267/KL(01)-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận số khung, số máy của xe mô tô hiệu Dream, màu đen, biển số 38D1-168.29 như sau:

- Xe mô tô hai bánh, kiểu dáng DREAM, số loại: C100, dung tích xy lanh: 97cm3, mang biển số 38D1-16829, có:

+ Số khung trước giám định: FS1004204662

+ Số máy trước giám định: 1P50FMG-310602235

- Sau giám định: Số khung, số máy nguyên thủy, không phát hiện cắt hàn, đục sửa.

- Kết luận giám định số 267/KL(02)-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận số khung, số máy của xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 68G1-035.79 như sau:

+ Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VARIO, dung tích xy lanh: 125 cm3, mang biển số 68G1-03579, có: Số khung trước giám định: MH1JM5118MK824636; Số máy trước giám định: JM51E1824156

+ Sau giám định: Số khung, số máy nguyên thủy, không phát hiện cắt hàn, đục sửa.

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Mai Thị Tím là người đại diện theo uỷ quyền của gia đình bị hại Mai Thị L yêu cầu Võ Ngọc Hoà bồi thường 300.000.000 đồng tiền chi phí mai táng, tổn thất về mặt tinh thần và tiền cấp dưỡng nuôi cháu Mai Ngô Thiên Hưởng là con của bà L cho đến khi đủ 18 tuổi. Hiện Hoà chưa bồi thường số tiền cho gia đình bị hại L. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho gia đình bị hại số tiền trên.

Tại Cáo trạng số: 132/CT-VKSBD-P2 ngày 07 tháng 5 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định truy tố Võ Ngọc H về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Giết người và áp dụng n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt tù chung thân.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: thống nhất với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tội danh và về hình phạt. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để xem xét hình phạt phù hợp.

Bị cáo đồng ý quan điểm của người bào chữa và không bổ sung gì thêm.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về làm ăn và bồi thường cho gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của họ được công bố tại phiên tòa, việc vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 16 giờ 10 phút ngày 28/7/2023 tại số 605/3, khu phố Thạnh Bình, phường An Thạnh, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, do ghen tuông tình ái, Võ Ngọc Hoà dùng 01 dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 30cm, bản rộng 10cm, loại dao chặt xương chém một nhát vào vùng đầu sau của bà L, bị hại Lài chạy vào trong phòng trọ thì bị vấp ngã té xuống nền nhà, người ngửa lên trên. Bị cáo tiếp tục lao tới chém liên tiếp 03 nhát nữa vào vùng cổ và tay của bị hại. Sau đó, bị cáo chạy ra xe mô tô nơi đối tượng Nghĩa đang đứng chờ sẵn bên ngoài chở đi tẩu thoát.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu, cổ và tay của bị hại là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của bị cáo gây ra. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Giết người” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, mang tính côn đồ cao, thể hiện qua việc khi bị cáo đến nơi bị hại Lài ở, bị cáo không nói gì mà cầm dao lao vào chém bị hại Lài. Hành vi của bị cáo rất quyết liệt thể hiện qua việc sau khi chém vào đầu, bị hại bỏ chạy thì bị cáo đuổi theo chém liên tiếp thêm 3 nhát vào vùng cổ và tay. Với vết thương của bị hại Lài ở những vị trí trọng yếu như đỉnh, chẩm trái đầu có vết đứt da cơ, đứt xương sọ; vùng cổ phải và giữa cổ, cằm có vết đứt da cơ; đứt vỡ xương sọ vùng chẩm, đỉnh trái, xuất huyết dưới nhện vùng chẩm trái; đứt cơ ức đòn chủm, cơ giáp móng, thanh khí quản; đứt rời động mạch cảnh chung phải. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải được xét xử nghiêm, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần phải xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp. Về tình tiết tăng nặng, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quan điểm của Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả nên được chấp nhận.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức phù hợp là có căn cứ nên được chấp nhận.

Sau khi gây án bị cáo H bỏ đi khỏi hiện trường sau đó đến Công an phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đầu thú. Tại đây bị cáo được kiểm tra chất ma túy, kết quả dương tính với chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã ban hành Công văn số 588 ngày 16/4/2025 đề nghị Công an phường Mỹ Xuân ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Ngọc H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có cơ sở.

Đối với ông Phan Văn L và ông Nguyễn Minh Khánh: Quá trình điều tra xác định ông Lạt và ông Khánh không biết Hoà đi chém người, cả hai đi theo Hoà chỉ vì tò mò muốn biết Hoà đi đâu nên đi theo phía sau nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) đầu ghi camera hiệu UB Vision, màu đen do ông Vũ Văn H1 giao nộp để phục vụ công tác điều tra nay xét thấy là tài sản của ông Vũ Văn H1 nên cần trả lại.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia model TA-1203, màu đen; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xanh, số khung: MH1JM5118MK824636; Số máy: JM51E1824156 là xe của Phan Văn Lạt, được ông Lạt giao nộp ngày 29/7/2023; xe này và điện thoại được xác định không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho ông Lạt. Tuy nhiên, biển số 68 G1 – 035.79 đang gắn vào chiếc xe này là biển số giả do Lạt nhặt được gắn vào nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen là của bị hại Lài, nên cần trả lại cho gia đình bị hại.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Prime, màu trắng (bút lục số 29-30) bị cáo đi cầm tại tiệm cầm đồ Tiến Phát là của bị cáo H cầm để lấy tiền mua đồ uống rượu, không sử dụng vào việc phạm tội. Ông Nguyễn Ngọc Trường là chủ tiệm cầm đồ Tiến phát không yêu cầu bồi thường và không yêu cầu nhận lại điện thoại. Do đó xét thấy đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, 01 (một) quần Jean dài màu xanh, 01 (một) đôi dép quai kẹp màu xanh, 01 (một) áo khoác Jean màu xanh, 01 (một) nón bảo hiểm màu đen hiện không còn giá trị sử dụng nên càn tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Dream, màu đen, biển số 38D1-168.29 (bút lục số 52) qua giám định có Số khung là FS100*4204662*; Số máy: 1P50FMG-3*10602235*. Qua Xác minh số Khung số máy trên là củ axe mô tô Biển kiểm soát 60K9-5890 đăng ký ngày 27/01/2002; đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Phi C; địa chỉ: tại Ấp 2, Sông Nhạn, Long Khánh, Đồng Nai. Qua làm việc ông Nguyễn Phi C cho biết đã bán chiếc xe trên cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên và không nhớ thông tin lai lịch người mua xe và hiện ông C không có yêu cầu nhận lại xe này. Do đó, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước chiếc xe này.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện của bị hại Mai Thị L yêu cầu Võ Ngọc Hoà bồi thường 300.000.000 đồng tiền (gồm chi phí mai táng và tiền cấp dưỡng nuôi cháu Mai Ngô Thiên Hưởng) là con của bà L cho đến khi đủ 18 tuổi. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 300.000.000đ cho đại diện bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo bồi thường số tiền trên.

Về hành vi của đối tượng Nghĩa, cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm đối tượng Nguyễn Thành Nghĩa nhưng chưa có kết quả. Do hành vi của Nghĩa mới chỉ được xác định thông qua lời khai của bị cáo. Thực tế Nghĩa có mặt tại hiện trường và là người chở bị cáo tẩu thoát. Vì vậy, kiến nghị Cơ quan điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục truy tìm, xác minh, làm rõ đối tượng Nghĩa để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đồng thời kiến nghị Cơ quan Công an có thẩm quyền xác minh, xử lý về hành vi gắn biển số không đúng quy định của Phan Văn Lạt khi tham gia giao thông.

Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 39, Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 292, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H tù chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả lại cho ông Vũ Văn H1 01 (một) đầu ghi camera hiệu UB Vision, màu đen.

- Trả lại cho ông Phan Văn Lạt 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xanh, có số khung: MH1JM5118MK824636; Số máy: JM51E1824156 (trừ biển số 68G1-035.79 đã có xử lý riêng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia model TA-1203, màu đen;

- Trả lại cho đại diện bị hại (ông Mai Văn Ơn, bà Trần Thị Mười và cháu Mai Ngô Thiên Hưởng) 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen.

- Trả lại cho bị cáo Võ Ngọc H 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy J7 Prime, màu trắng. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ điện thoại này để đảm bảo việc thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng; 01 (một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu xanh; 01 (một) áo khoác Jean màu xanh và 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy biển số 68G1-035.79 (hiện đang gắn trên xe mô tô Honda Vario, màu xanh, có số khung: MH1JM5118MK824636; Số máy: JM51E1824156 của Phan Văn Lạt).

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe xe mô tô hiệu Dream, màu đen, có Số khung là FS100*4204662*; Số máy: 1P50FMG-3*10602235* hiện có gắn biển số 38D1-168.29.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương ngày 14 tháng 5 năm 2025).

3. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Võ Ngọc H bồi thường cho đại diện bị hại (gồm ông Mai Văn Ơn, bà Trần Thị Mười và Cháu Mai Ngô Thiên Hưởng) số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) án phí dân sự.

Cỡ chữ