- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Kim Th được ly hôn với anh Trương Minh H
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 442/2025/HNGĐ-ST Ngày 03 – 12 - 2025 V/v ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Danh Riêng
Bà Nguyễn Hồng Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Th An – Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 419/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025 về ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim Th, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp TB, xã TH, tỉnh AG
- Bị đơn: Anh Trương Minh H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp BX, xã GR, tỉnh AG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Kim Th nguyên đơn trình bày: Chị Th và anh Trương Minh H được sự mai mối tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới năm 2005; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Sau khi kết hôn chị và anh H sống hạnh phúc được thời gian đầu. Nhưng đến khoản năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, sống không có tiếng nói chung, nên cả hai đã ly thân từ giữa năm 2023 đến nay. Nay chị xét thấy không thể tiếp tục chung sống vợ chồng anh H, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Minh H.
Về con chung: Chị Th xác định chị và anh H có với nhau hai người con chung tên Trương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 15/9/2006 và Trương Gia B, sinh ngày 22/10/2016, hiện cháu Tr đã trưởng thành chị Th không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu B hiện đang sống cùng anh H và có nguyện vọng được ở với cha nên chị giao cháu B cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trương Minh H đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng anh H không có văn bản, ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa án đã triệu tập anh H đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh H vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thẩm phán, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về hôn nhân: Chị Th anh Trương Minh H có đăng ký kết hôn theo quy định, nên xác định hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc cả hai đã sống ly thân nên xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Kim Th với anh Trương Minh H.
Về con chung: Chị Th xác định chị và anh H có với nhau hai người con chung tên Trương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 15/9/2006 và Trương Gia B, sinh ngày 22/10/2016, theo chị Th xác định hiện cháu Tr đã trưởng thành chị Th không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu B hiện đang sống cùng anh H và có nguyện vọng được ở với cha nên chị giao cháu B cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng không đưa ra ý kiến hay yêu cầu gì nên không có căn cứ để xem xét, theo ý kiến của chị Th hiện anh H đang nuôi cháu B và cháu B có nguyện vọng được ở với cha. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu B cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, do anh H vắng mặt không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Đối với cháu Ngọc Tr đã trưởng thành không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh H với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Bờ Xáng, xã Thạnh Bình, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay ấp Bờ Xáng, xã Giồng Riềng, tỉnh An Giang) nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang. Quá trình tố tụng nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Kim Th và anh Trương Minh H là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đúng thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị Th cho rằng giữa chị anh H thường xuyên cự cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị và anh H đã ly thân từ giữa năm 2023 đến nay. Đối với bị đơn Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng chị Th không còn tình cảm vợ chồng với anh H và cả hai đã sống ly thân. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Th anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th đối với anh H.
Về con chung: Chị Th xác định chị và anh H có với nhau hai có với nhau hai người con chung tên Trương Thị Ngọc Tr, sinh ngày 15/9/2006 và Trương Gia B, sinh ngày 22/10/2016, hiện cháu Tr đã trưởng thành chị Th không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu B hiện đang sống cùng anh H và có nguyện vọng được ở với cha nên chị giao cháu B cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn là nếu sau khi ly hôn vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con thì do Tòa án quyết định, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Chị Th cho rằng hiện cháu B đang sống cùng với anh H và có nguyện vọng được ở với cha. Do anh H vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng không đưa ra ý kiến hay yêu cầu nên Hội đồng xét xử xét thấy để đảm B sự ổn định và điều kiện phát triển của con nghị nên giao cháu B cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con và quy định của pháp luật. Đối với cháu Ngọc Tr đã trưởng thành không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H vắng mặt không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Nguyễn Kim Th phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227 Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Áp dụng Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Kim Th được ly hôn với anh Trương Minh H
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Trương Gia B, sinh ngày 22/10/2016, cho anh Trương Minh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Tr đã trưởng thành không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cháu B có nguyện vọng được ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn.
Chị Th có quyền nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim Th phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 69 ngày 09 tháng 6 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – An Giang).
5. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Kim Th anh Trương Minh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND KV 5; - THADS tỉnh An Giang; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Nhiên |