vanban.org

Bản án 442/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 12/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu T, bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo T có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 310/2023/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo H. Về án phí: Bị cáo Lê Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Trọng H phải nộp 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu T, Nguyễn Trọng H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu T, bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo T có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 442/2024/HS-PT
Ngày: 12/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường;

Ông Nguyễn Tiến Dũng.!

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lý, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 198/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Lê Hữu T (U) và Nguyễn Trọng H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 310/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Hữu T (U), sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hữu T1 và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Lê Thị Diệu L1 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Trọng H, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trọng H1 và bà Dương Thị T2; có vợ là Vũ Thị N và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/7/2022, tại quán bi-a của gia đình anh ! Lê Xuân T3, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã H, huyện H, có hai nhóm thanh niên đang chơi, ngồi xem đánh bi-a, trong đó:

Nhóm thứ nhất gồm: Nguyễn Trọng H, sinh năm 1993, Lê Tiến T4, sinh năm 2002, Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1995, Lê Hữu L2, sinh năm 1992, chơi bi-a. Còn Lê Xuân N1, sinh năm 1993 và Nguyễn Văn T5, sinh năm 1998 (là bạn), ngồi xem mọi người chơi bi-a, cả 06 người đều trú tại thôn C, xã H, huyện H.

Nhóm thứ hai gồm: Lê Xuân C1, sinh năm 1998, Lê Mai T6, sinh năm 1995, Nguyễn Văn L3, sinh năm 1990, Cao Đình C2, sinh năm 1997, đều ở thôn B, xã H, huyện H và Nguyễn Văn S, sinh năm 1985, trú tại thôn C, xã H, huyện H đang đánh bi a và ngồi xem ở bàn bên cạnh.

Quá trình chơi bi-a, nhóm của C2, C1, T6, Nguyễn Văn L3, S xảy ra tranh cãi về luật chơi. Lúc này, N1 ngồi ngoài nói chen vào thì xảy ra mâu thuẫn chửi bới nhau với Nguyễn Văn L3. Quá trình tranh cãi thì L3 dùng chân đạp một cái vào bụng N1, rồi N1 lao vào dùng tay đánh nhau với L3. Khi N1 và Nguyễn Văn L3 đang đánh nhau, T6 cầm viên bi-a lao lại đập một cái vào vùng mắt trái của N1. Thấy N1 bị đánh, T5 lao vào dùng tay đấm Nguyễn Văn L3 và T6, rồi H cầm theo gậy bi-a đuổi đánh Nguyễn Văn L3 và T6. Sau đó, anh T3 chủ quán và mọi người lại can ngăn nên sự việc dừng lại. Nguyễn Văn L3 và T6 bỏ ra ngoài đường.

Khoảng mấy phút sau, Đ, H, N1 ra lấy xe để đi về thì thấy Nguyễn Văn D, sinh năm 1991, trú tại thôn B, xã H đi bộ và Lê Hữu T (hay còn gọi là U), sinh năm 1994, trú tại thôn C, xã H, đi xe mô tô đến sân quán B2-a.

Vừa vào sân, D và T (U) xảy ra cãi nhau, rồi D chạy ra đường gọi T6 quay lại bảo “Mi đứng đây xem có thằng nào dám đánh không”. Lúc này, T (U) đi xe mô tô lại vị trí của D, T6 (T6 đang cầm quả bi-a trên tay) đang đứng trên đường, rồi xuống xe thách thức chửi bới với D, T6. Khi hai bên đang cãi nhau, thì T (U) mở cốp xe lấy ra 01 con dao (dạng dao phay có cán bằng gỗ) chém 01 phát vào vùng lưng của D nên D bỏ chạy. Lúc này, có anh Lê Văn B, sinh năm 1991, trú tại thôn B, xã H (là người dân ở khu vực hiện trường), lại can ngăn, giằng dao với T, trong lúc giằng co T bị dao cắt vào đầu gối trái. Thấy D bị T dùng dao chém, T6 cầm viên bi-a lao về phía T thì bị T5 lao lại ôm, giữ tay của T6. Trong khi T5 ôm T6, N1 và H chạy lại dùng tay, chân đánh T6, rồi T5 dùng tay trái ôm T6 còn tay phải đánh vào vùng mặt, vùng đầu của T6.

Lúc này, Nguyễn Văn L3 cầm theo gậy bi-a chạy lại, thấy thế N1 và H không tiếp tục đánh T6 mà chạy về phía cổng quán bi-a để lấy gạch. Thiện vùng thoát được, cầm quả bi-a cùng với Nguyễn Văn L3 lùa đuổi T5 thì T5 chạy về phía cổng quán B2 để lấy gạch. Sau khi lấy được gạch, H dùng hai tay cầm hai viên gạch lao lại đánh T6, H dùng tay phải cầm gạch đập vào phía sau đầu T6 và dùng tay trái cầm gạch đập vào mí mắt bên phải của T6. Sau khi bị H đánh bằng gạch, T6 bỏ chạy. Còn N1, T5 cầm gạch trên tay nhưng được can ngăn nên bỏ ! gạch xuống đường. Sự việc đánh nhau dừng lại, các nhóm đưa người bị thương tích đến cơ sở y tế để điều trị.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 09h40’ ngày 09/7/2022 xác định:

Nơi xảy ra vụ việc là tại khu vực đường F, thôn B, xã H, huyện H kéo dài từ nhà số A (nhà của anh Lê Xuân T3, sinh năm 1995) về phía Tây khoảng 30m đến số nhà B và một phần trong khu vực bàn bi-a nhà anh T3.

Tại vị trí trước cổng nhà số A đường F thôn B phát hiện 04 viên gạch đất nung 02 lỗ, mỗi viên kích thước (20 x 9,2 x 5,2)cm; Tại vị trí giáp mương nước cạnh mương nước giáp nhà số A phát hiện pallet để gạch kích thước (1 x 1 x 1,5)m, tại tầng trên mặt trên cùng của pallet gạch bị thiếu ở hai góc, mỗi góc thiếu 05 viên gạch (tổng cộng thiếu 10 viên gạch); Tại vị trí giữa lòng mương thoát nước cạnh nhà số 01 phát hiện 01 viên gạch cùng đặc điểm trên; Cách mép tường nhà số F (nhà anh T3) 1,3m phát hiện 01 viên gạch cùng đặc điểm trên. Tại nhà anh Lê Xuân T3, phía sau quán cắt tóc là khu vực bày 02 bàn bi-a là vị trí các đối tượng xảy ra mâu thuẫn ban đầu.

Về hậu quả: Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Nguyễn Văn D hổi 21h50’ ngày 06/7/2023 tại Trạm y tế xã H, huyện H phát hiện: 01 vết thương rách da chảy máu ở vùng lưng kích thước (12x2)cm, bờ mép vết sắc gọn.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Lê Mai T6 hồi 11h20’ ngày 04/7/2022 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hoá phát hiện: 01 vết thương vùng chẩm, kích thước (3x2)cm, bờ mép vết nham nhở; 01 vết thương vùng cung mày phải, kích thước (2x1)cm, bờ mép vết nham nhở; 03 vết sưng nề, xây sát vùng trán trái, quanh mắt trái, gò má. Tóm tắt bệnh án của Lê Mai T6 xác định không thấy hình ảnh vỡ xương hay tụ máu; nhu mô não, hệ thống não thất, bể não, các rãnh cuộn não không thấy hình ảnh bất thường.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Lê Xuân N1 hồi 13h05’ ngày 09/7/2023 phát hiện: Tại hốc mắt bên trái bị thâm, sưng, phù nề; Tại cổ và bàn tay phải đang bó bột. Giấy chứng nhận bó bột của Lê Xuân N1 xác định gãy đầu trên xương đốt bàn tay phải ngón 1, cổ tay phải.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Lê Hữu T hồi 10h45’ ngày 11/7/2022 tại Bệnh viện Đ1 phát hiện: 01 (một) vết thương tại mặt trước gối trái kích thước (5x3)cm, bờ mép vết sắc gọn.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với những người bị thương trong vụ án, tuy nhiên Lê Mai T6, Lê Xuân N1, Lê Hữu T, Nguyễn Văn D đều từ chối giám định và có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây thương tích cho mình.

Biên bản làm việc với Trưởng thôn Bột Trung, biên bản xác minh tại Công an xã H và Ủy ban nhân dân xã H đều xác định vụ việc xảy ra trên đoạn đường liên thôn với đông đối tượng hò hét lùa đuổi, đánh nhau bằng nhiều loại hung khí, gây mất an ninh trật tự, gây hoang mang dư luận trên địa bàn xã H. !

Về vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 06 viên gạch dạng gạch đất nung 02 lỗ, kích thước mỗi viên (20 x 9,2 x 5,2)cm thu giữ tại hiện trường và 01 con dao loại dao thái tối màu dài 39cm, phần lưỡi bằng kìm loại dài 26,5m, chỗ rộng nhất của lưỡi dao rộng 7,5cm, đầu bằng; cán dao bằng gỗ dài 12,5cm do Nguyễn Trọng H giao nộp sẽ được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý.

Về dân sự: Nguyễn Trọng H đã đền bù cho Lê Mai T6 18.000.000đ, T6 không yêu cầu H phải đền bù thêm và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H; Lê Mai T6 đã đền bù cho Lê Xuân N1 8.000.000đ, Nam không yêu cầu T6 phải đền bù thêm và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T6; Lê Hữu T đền bù cho Nguyễn Văn D 35.000.000đ, D không yêu cầu T phải đền bù thêm và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.

Tại bản Cáo trạng số 145/CTr-VKS-P2 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố các bị cáo Lê Hữu T, Nguyễn Trọng H về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 310/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt:

- Lê Hữu T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Nguyễn Trọng H 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/01/2024, các bị cáo Lê Hữu T và Nguyễn Trọng H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lê Hữu T tự nguyện rút đơn kháng cáo.

Bị cáo Nguyễn Trọng H vắng mặt, có đơn xin hoãn phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hữu T tự nguyện rút đơn kháng cáo, việc rút kháng cáo của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo Lê Hữu T. Tòa án sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng không có tình tiết giảm ! nhẹ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trọng H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Nguyễn Trọng H có đơn kháng cáo; ngày 16/4/2024, Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập phiên tòa lần thứ nhất, bị cáo Nguyễn Trọng H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Ngày 12/6/2024, bị cáo H được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng có đơn xin hoãn phiên tòa. Xét thấy, bị cáo H đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng đều vắng mặt, bị cáo H vắng mặt không vì lý do bất khả kháng, hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo H theo quy định tại Điều 290, Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hữu T rút kháng cáo, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/7/2022, tại quán B2-a của gia đình anh Lê Xuân T3 và khu vực đường F thôn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Trọng H, Lê Hữu T, Lê Mai T6, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn L3, Lê Xuân N1 đã dùng hung khí là gạch, dao, gậy bi-a, bóng bi-a tham gia lùa đuổi, đánh nhau gây thương tích và gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hữu T, Nguyễn Trọng H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo H 30 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; hành vi của bị cáo H cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tại cấp phúc thẩm bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H; xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Lê Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. !

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 290, Điều 351, khoản 1 Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Hữu T, bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo T có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 310/2023/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo H.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Trọng H 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Lê Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Trọng H phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ