vanban.org

Bản án 442/2017/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn P. Sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn P. Sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 442/2017/HSPT

Ngày: 29/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Huỳnh Anh Kiệt

Các"Thẩm"phán:

1/Ông Vũ Hoài Nam

2/Ông Nguyễn Tuấn Anh

"Thư"ký"tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc – Cán bộ Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.

"Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" Tp.Hồ" Chí" Minh" tham" gia" phiên" tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 414/2017/HSPT ngày 01/08/2017 đối với bị cáo Huỳnh Văn P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2017/HSST ngày 20/06/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị"cáo"có"kháng"cáo:"

Họ và tên: Huỳnh Văn P; Giới tính: Nam; sinh năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKHKTT: Số D3/5A KP4, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Như trên; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; con ông Huỳnh Văn O và bà Trần Thị T; bị cáo có vợ tên Trần Thị Kim P và 01 con, sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa.)

NHẬN THẤY:

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 09/12/2016 ông Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 54L1-5856 đến nhà tu Trung Thừa thuộc Thánh thất T, địa chỉ D3/41 KP4, thị trấn T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh, khi đến ông H dựng xe trước cổng nhà tu, cũng là trước quán nước ven đường do Huỳnh Văn P cùng vợ Trần Thị Kim P bán nước, lúc này yên xe đang mở. Trong cốp xe 01 cái bóp bên trong có 6.000.000 đồng (12 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). Lợi dụng ông H đi ra phía sau Nhà tu P mở Yên xe và lấy trong bóp ông H số tiền 3.000.000 đồng (gồm 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2017/HSST ngày 20/06/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Ngoài ra Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, trách nhiệm dân sự và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 03/7/2017 bị cáo Huỳnh Văn P kháng cáo xin được hưởng án treo. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Về hình thức: tại bản án số 94/2017/HSST ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân Huyện B, thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/7/2017 bị cáo Huỳnh Văn P có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ, cần chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc phẩm. Về nội dung: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Huỳnh Văn P đã có hành vi lén lút mở yên xe gắn máy của người bị hại lấy trong bóp số tiền 3.000.000 đồng thì bị phát hiện. Với hành vi đó,Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, áp dụng các điểm g,h,p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng tù là có căn cứ nhưng có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ: sau khi chiếm đoạt số tiền 3 triệu đồng của người bị hại vào lúc 21 giờ ngày 09/12/2016, đến sáng ngày hôm sau, khi người bị hại phát hiện mất tiền trong cốp xe, đã quay lại gặp bị cáo thì bị cáo đã thừa nhận hành vi trộm cắp số tiền nói trên, chứng tỏ bị cáo rất thành khẩn khai báo, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện điều tra vụ án. Đồng thời, ngày 22/8/2017 bị hại có đơn bãi nại xin xem xét hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm. Hơn nữa, hiện bị cáo đang tại ngoại, ổn định cuộc sống, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, có nghề nghiệp ổn định. Cần xem xét tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người công dân tốt. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, khi lượng hình cần áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn P. Sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p, q khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Văn P cho Uỷ ban nhân dân Thị trấn T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú sẽ được thực hiện theo Điều 69 luật Thi hành án hình sự 2010.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (Đã giải thích chế định án treo)

Cỡ chữ