- Tranh chấp gì? án hành chính — "Công ty V kiện UBND quận B"
- Tòa quyết gì? số 40/2001/QĐ-UB ngày 15/5/2001 của UBND Thành phố U về đền bù, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư Dự án Đại lộ Đ - Tây;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 441/2025/HC-PT Ngày 17 - 4 - 2025 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tửu
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Long
Ông Hà Huy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 1290/2024/TLPT-HC ngày 20 tháng 12 năm 202 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 819/2022/HC-ST ngày 09 tháng 6 năm
2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 545/2025/QĐ-PT ngày
28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện:
Công ty TNHH V (tên cũ Công ty TNHH V);
Địa chỉ: Số E, Đường số E, Khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Mậu Quốc T (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trần T1 (có mặt);
Địa chỉ: 3 Đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 04/11/2019).
2. Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân (gọi tắt là “UBND”) Quận B (nay là UBND thành phố T
(xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Trần Cảnh P; Chức vụ: Phó trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt
bằng thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
- Bà Phan Thị Minh L; Chức vụ: Trưởng phòng tiếp dân Ban bồi thường
giải phóng mặt bằng thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).
- Ông Trần Quốc S; Chức vụ: Phó trưởng phòng tiếp dân Ban bồi thường
giải phóng mặt bằng thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người kháng cáo: Người bị kiện UBND thành phố T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các biên bản đối thoại và lời trình bày tại tòa, người
khởi kiện Công ty TNHH V (sau đây viết tắt là: Công ty) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trần T1 trình bày:
Năm 2001, Công ty nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thanh G và ông Nguyễn Quốc T2 diện tích 1.981m2 tại xã A, huyện T (nay là phường A, thành phố T) thuộc các thửa 393, 397, 402 tờ bản đồ số 2, trong đó diện tích được công nhận thực tế là 300m2.
Năm 2003, Công ty tiếp tục nhận chuyển nhượng căn nhà số F Xa lộ H,
khu phố D, phường A, thành phố T của bà Trần Thị Thùy L1 và ông Lê Minh P1, diện tích đất là 416,1m2, diện tích xây dựng là 95,4m2.
Toàn bộ phần đất thuộc thửa 393, 397, 402 và căn nhà tại F Xa lộ H, phường A, thành phố T đều bị giải phóng mặt bằng phục vụ cho Dự án Đại lộ Đ - Tây và đều có quyết định bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho Công ty. Sau khi bàn giao mặt bằng, Công ty đã nhận đủ tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của Nhà nước và được nhận 02 suất tái định cư theo hai Phiếu đăng ký tái định cư số 427A/TĐC, 427B/TĐC cùng ngày 27/10/2005, có xác nhận của các bên gồm: Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - T, tổ tái định cư và bên nhận suất tái định cư là Công ty.
Thực hiện thỏa thuận của các bên về việc giao và nhận 02 suất tái định cư
nêu trên, ngày 17/4/2007, Công ty đã nộp 400.000.000 đồng để tiến hành nhận đất như đã thống nhất. Kể từ thời điểm nộp tiền, Công ty đã nhiều lần gửi văn bản khiếu nại đến nhiều nơi yêu cầu được nhận 02 suất tái định cư để ổn định kế hoạch kinh doanh, nhưng đến năm 2005 Công ty mới được thông báo yêu cầu của Công ty đã được chuyển đến Ban bồi thường xem xét, tham mưu U giải quyết.
Công ty đã nhiều lần liên hệ với Ban bồi thường nhưng chỉ nhận được câu
trả lời là đang trình U (nay là UBND thành phố T) giải quyết, tiếp tục đến U thì được trả lời đang trình UBND Thành phố U giải quyết.
Ngày 13/01/2016, đại diện Công ty đến UBND Thành phố U nộp đơn khiếu nại và sau đó nhận được thông báo là UBND Thành phố đã gửi Công văn số 9418/VP-NCPC đến Chủ tịch U, nội dung: Giao Chủ tịch U kiểm tra đơn của Công ty để xem xét, giải quyết theo chỉ đạo tại Công văn số 7941/VP-ĐT ngày 12/8/2016. Theo chỉ đạo trên, U đã tổ chức cuộc họp giữa các phòng, ban và phát hành Thông báo số 184/TB-VB ngày 25/10/2016, nội dung: Ngày 13/6/2016, có cuộc họp do Phó Chủ tịch chủ trì và kết luận: Căn cứ kết luận của Hội đồng bồi thường tại Thông báo số 384/TB-HĐ ngày 23/3/2005 và Thông báo số 402/TB-HĐ ngày 28/3/2005 tham mưu UBND quận, hội đồng bồi thường Dự án Đại lộ Đ
- Tây có văn bản báo cáo, đề xuất UBND Thành phố U xem xét, chấp thuận giải quyết bố trí 02 nền đất tại khu 17,3ha phường A theo giá không kinh doanh cho Công ty.
Đến ngày 24/7/2019, U ban hành Thông báo số 410/TB-UBND, nội dung:
Thu hồi 02 nền đất đối với Công ty (do Công ty là tổ chức và bị thu hồi một phần diện tích nên không có cơ sở giải quyết tái định cư).
Ngày 01/8/2019, U tiếp tục ban hành Quyết định số 3052/QĐ-UBND, nội
dung: Điều chỉnh một phần nội dung Điều 1, Điều 2 Quyết định số 5790/QĐ-UBND ngày 13/12/2005 của Chủ tịch U để hủy bỏ cụm từ “cơ quan, đơn vị” và hủy bỏ dòng thứ tự số 58 và 60 (tên Công ty TNHH V) tại danh sách kèm theo quyết định, các nội dung khác của Quyết định số 5790/QĐ-UBND vẫn giữ nguyên.
Vụ việc kéo dài đã hơn 10 năm, gần đây Công ty mới nhận được trả lời của
U hoàn toàn đi ngược với chính sách và các phương án đã được phê duyệt từ năm 2005, không phù hợp với chính sách của UBND Thành phố U về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 23/2015/QĐ-UBND ngày 15/5/2015. Việc này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, Công ty khởi kiện, yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 3052/QĐ-
UBND ngày 01/8/2019 của U (nay là UBND thành phố T) và Thông báo số 410/TB-UBND ngày 24/7/2019 của U.
Người bị kiện U (nay là UBND thành phố T) có ý kiến trình bày tại Văn
bản số 568/UBND-BBT ngày 27/02/2020 như sau:
Công ty có 02 hồ sơ trong dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - T, cụ thể:
* Hồ sơ thứ 1 (nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Thùy L1):
- Vị trí giải tỏa:
Một phần căn nhà số F Xa lộ H, khu phố D, phường A, Quận B (nay là
thành phố T). Diện tích giải tỏa 474,705m2 (giải tỏa một phần).
- Nguồn gốc:
Nhà do bà L1 sử dụng đã được U cấp GCNQSHNỞ&QSDĐỞ số 943/2002
ngày 30/12/2002 với diện tích 416,1m2. Năm 2003, bà L1 chuyển nhượng cho Công ty theo hợp đồng mua bán chuyển nhượng nhà số 305/HĐ-MBN được Phòng C chứng nhận ngày 20/01/2003.
Ngày 28/01/2005, Chủ tịch U ban hành Quyết định số 431/QĐ-UB về bồi
thường, hỗ trợ đối với Công ty số tiền là 1.215.463.563 đồng; Công ty đã nhận toàn bộ số tiền trên.
* Hồ sơ thứ 2 (Nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Thanh G):
- Vị trí giải tỏa:
Thửa 397,402, tờ bản đồ số 2, phường A, Quận B. Diện tích giải tỏa: 993,302m2 (giải tỏa một phần).
- Nguồn gốc:
Đất do bà Bùi Thị Đ và ông Phạm Đức L2 sử dụng và tự xây dựng nhà ở
(có giấy phép sử dụng đất số 173/GPSDĐ ngày 26/01/1988 của UBND huyện T). Năm 1992, ông L2 và bà Đ chuyển nhượng lại cho bà G theo văn tự mua bán nhà có xác nhận của UBND xã A ngày 08/12/1992. Năm 2001, bà G chuyển nhượng toàn bộ nhà đất với tổng diện tích 1.981m2 cho Công ty.
Ngày 10/3/2005, Chủ tịch U ban hành Quyết định số 934/QĐ-UB về việc
bồi thường, hỗ trợ đối với Công ty với số tiền 955.206.013 đồng; Công ty đã nhận toàn bộ số tiền trên.
* Về việc xét bán 02 nền đất tại Khu tái định cư A, phường A - B, Quận B
(nay là thành phố T):
Ngày 23/3/2005, Hội đồng bồi thường dự án Đại lộ Đ - Tây có Thông báo số 384/TB-HĐ với nội dung: “thống nhất vận dụng chính sách giải quyết bố trí 02 nền đất với giá không kinh doanh tại khu tái định cư 17,3ha phường A cho Công ty TNHH V”.
Ngày 28/3/2005, Hội đồng Bồi thường dự án có Thông báo số 402/TB-HĐ
về việc thông báo thống nhất vận dụng chính sách giải quyết bố trí cho Công ty được mua 02 nền đất theo giá không kinh doanh trong khu tái định cư 17,3ha của dự án (vận dụng chính sách giải quyết 01 nền đất giá không kinh doanh đối với hồ sơ có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Thùy L1 và 01 nền đất giá không kinh doanh đối với hồ sơ có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Thanh G).
Ngày 13/12/2005, Chủ tịch U ban hành Quyết định số 5790/QĐ-UB về bố
trí tái định cư hai nền đất số G24 và G26, diện tích 100m2/nền cho Công ty. Tổng giá trị mua hai nền đất là 1.280.000.000 đồng (Quyết định bố trí tổng đối với các hộ dân, cơ quan, đơn vị kèm theo danh sách).
Ngày 17/4/2007, ông D đại diện Công ty đã chuyển tiền vào tài khoản của
Công ty Q số tiền 400.000.000 đồng để thanh toán một phần cho việc mua 02 nền đất G24, G26.
Để đảm bảo chặt chẽ giải quyết hồ sơ và cấp giấy chứng nhận 02 nền đất
G24, G26 cho Công ty, ngày 18/6/2012 U có Công văn số 1980/UBND trình UBND Thành phố U xin ý kiến giải quyết, trong đó nêu: Trường hợp Công ty không đủ điều kiện tái định cư (nhà ở, đất ở bị thu hồi giải tỏa một phần) do đó, Hội đồng bồi thường dự án Đại lộ Đ - Tây đã có Thông báo số 384/TB-HĐ ngày 23/3/2005 và Thông báo số 402/TB-HĐ ngày 28/3/2005 vận dụng chính sách giải quyết bố trí 02 nền đất tại khu tái định cư 17,3ha phường A với giá không kinh doanh cho Công ty theo quy định tại phần G Phương án số 34/PA-UB ngày 02/5/2002 về đền bù, hỗ trợ thiệt hại, tái định cư dự án Đại lộ Đ - Tây trên địa bàn Quận B (đã được phê duyệt tại Quyết định số 2175/QĐ-UB ngày 21/5/2002 của UBND thành phố), cụ thể: “Hội đồng đền bù thiệt hại, giải phóng mặt bằng dự án báo cáo kịp thời các vướng mắc trong quá trình thực hiện với Ủy ban nhân dân quận T4 hoặc xin ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố”.
Ngày 21/9/2012, Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố có Văn bản số
741/HĐTĐBT-KTĐ trình UBND Thành phố U về trường hợp Công ty thuộc dự án Đại lộ Đ - Tây, với nội dung:
“Việc Ủy ban nhân dân Quận U bố trí cho Công ty TNHH V 02 nền đất
theo giá không kinh doanh là không có cơ sở xem xét, giải quyết vì việc bố trí tái định cư chỉ xem xét giải quyết đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ nhà ở - đất ở, trong khi Công ty TNHH V là tổ chức và chỉ bị thu hồi một phần diện tích. Do đó, Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố không thống nhất với đề xuất của Ủy ban nhân dân Quận U, kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố U:
- Thu hồi lại 02 nền đất đã bố trí và hoàn trả cho Công ty TNHH V số tiền đã nộp cộng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm từ ngày nộp tiền đến ngày hoàn trả.
- Về nguồn kinh phí thực hiện hoàn trả:
+ Đối với số tiền 400.000.000 đồng: Công ty Q chịu trách nhiệm hoàn trả.
+ Đối với phần lãi suất phát sinh: xảy ra việc này là do lỗi của Ủy ban nhân dân Quận U, nên sẽ chi trả bằng nguồn ngân sách Quận B”.
Ngày 31/3/2015, U tiếp tục có Văn bản số 1089/UBN-BBT về kiến nghị
giải quyết trường hợp Công ty, với nội dung: “trường hợp Công ty TNHH V không đủ điều kiện tái định cư (nhà ở, đất ở bị thu hồi giải tỏa một phần và là tổ chức). Nhưng do Công ty TNHH V có diện tích giải tỏa lớn, vị trí mặt tiền đường, chấp hành chủ trương, chính sách Nhà nước bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án đúng tiến độ. Đồng thời, nguồn gốc nhà, đất Công ty TNHH V nhận chuyển nhượng từ cá nhân của bà Trần Thị Thùy L1 và bà Lê Thị Thanh G. Do đó, Hội đồng bồi thường dự án đại lộ Đ - Tây đã có Thông báo số 384/TB-HĐ ngày 23/3/2005 và Thông báo số 402/TB-HĐ ngày 28/3/2005 vận dụng chính sách giải quyết bán 02 nền đất tại khu tái định cư 17,3ha, phường A - B, Quận B với giá không kinh doanh cho Công ty TNHH V, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận U đã ban hành Quyết định bố trí 02 nền đất G24, G26 cho Công ty TNHH V là phù hợp tại thời điểm đó. Đến nay, đã gần 10 năm mà Công ty vẫn chưa được giải quyết”.
Ngày 23/7/2015 và 17/6/2016, Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố
tiếp tục có các Văn bản số 638/HĐTĐBT-TTr và Văn bản số 385/HĐTĐBT-TTr về giải quyết trường hợp Công ty có nội dung đề nghị UBND thành phố sớm xem xét giải quyết theo báo cáo của Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố tại Văn bản số 741/HĐTĐBT-KTĐ ngày 21/9/2012.
Ngày 12/8/2016, Văn phòng UBND thành phố có Văn bản số 7941/VP-ĐT
về giải quyết trường hợp Công ty bị ảnh hưởng bởi dự án Đại lộ Đ - Tây có nội dung: “Giao Ủy ban nhân dân Quận U nghiên cứu ý kiến hướng dẫn của Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố tại Văn bản số 385/HĐTĐBT-TTr ngày 17/6/2016, Văn bản số 638/HĐTĐBT-TTr ngày 23/7/2015 và Văn bản số 741/HĐTĐBT-KTĐ ngày 21/9/2012 để giải quyết bồi thường, hỗ trợ cho Công ty TNHH V theo thẩm quyền và quy định pháp luật; báo cáo kết quả cho Ủy ban nhân dân thành phU”.
Ngày 25/10/2016, Văn phòng U có Thông báo số 184/TB-VP có nội dung: “Giao Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận căn cứ kết luận của Hội đồng bồi thường dự án tại Thông báo số 384/TB-HĐ ngày 23/3/2005 và Thông báo số 402/TB-HĐ ngày 28/3/2005, tham mưu Ủy ban nhân dân quận V1 báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố U, chấp thuận giải quyết bố trí 02 nền đất tại khu 17,3ha phường A theo giá không kinh doanh cho Công ty TNHH V”.
Ngày 11/11/2016, U có Công văn số 5997/UBND-BBT trình UBND thành
phố, Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố xin ý kiến giải quyết chính sách tái định cư đối với Công ty bị ảnh hưởng trong dự án Đại lộ Đ - T.
Ngày 15/02/2017, Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố có Công văn
số 788/HĐTĐBT, đề nghị U thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố tại Công văn số 7941/VP-ĐT ngày 12/8/2016 nêu trên. Tuy nhiên, nội dung Công văn số 7941 đề nghị U nghiên cứu ý kiến hướng dẫn của Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố tại Công văn số 741/HĐTĐBT-KTĐ ngày 21/9/2012 để giải quyết bồi thường, hỗ trợ cho Công ty theo thẩm quyền và quy định pháp luật, không có ý kiến thống nhất hay không thống nhất với nội dung đề xuất của Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố.
Ngày 11/9/2017, U tiếp tục có Công văn số 3741/UBND-BBT kiến nghị
UBND thành phố, Hội đồng Thẩm định bồi thường thành phố xem xét giải quyết chính sách tái định cư đối với Công ty để chấm dứt việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài và nhằm bù đáp phần nào thiệt hại cho Công ty. Ngày 20/9/2017, Văn phòng U có Phiếu báo số 37893/PB-ĐT đã chuyển Công văn số 3741 đến Hội đồng Thẩm định bồi thường thành phố rà soát, hướng dẫn, hỗ trợ U thực hiện theo quy định.
Ngày 17/4/2019, Văn phòng UBND Thành phố U có Công văn số 3266/VP-ĐT truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND thành phố với nội dung:
“1. Yêu cầu Chủ tịch U khẩn trương thực hiện theo chỉ đạo của UBND
thành phố tại Công văn số 7941/VP-ĐT ngày 12/8/2016. Trường hợp Công ty TNHH V khiếu nại thì căn cứ Luật Khiếu nại, Luật Đất đai, các nghị định hướng dẫn thi hành để giải quyết theo quy định.
2. Giao Ban chỉ đạo Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố cung cấp
thông tin cho B đề nghị đính chính, viết lại cho rõ việc giải quyết nền đất tái định cư cho Công ty TNHH V là không có cơ sở, căn cứ pháp luật”.
Như vậy, theo các văn bản chỉ đạo của UBND thành phố, Hội đồng thẩm
định Bồi thường thành phố và chính sách bồi thường dự án Đại lộ Đ - Tây đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, thì Công ty chỉ được giải quyết bồi thường, hỗ trợ bằng tiền, không giải quyết tái định cư.
* Về việc thu hồi thông báo bố trí tái định cư và điều chỉnh quyết định bồi
thường, hỗ trợ:
Ngày 24/7/2019, U ban hành Thông báo số 410/TB-UBND về việc thu hồi,
hủy bỏ Thông báo số 402/TB-HĐ ngày 28/3/2005; nội dung Mục 6 tại Thông báo số 384/TB-HĐ ngày 23/3/2005; Phiếu đăng ký tái định cư của Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Đại lộ Đ - T3 đã cấp cho Công ty thuộc dự án Đại lộ Đ - T, trên địa bàn Quận B.
Ngày 01/8/2019, U ban hành Quyết định số 3052/QĐ-UBND về điều chỉnh một phần nội dung Điều 1, Điều 2 Quyết định số 5790/QĐ-UBND ngày 13/12/2005.
* Căn cứ pháp lý áp dụng chính sách trong dự án:
Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 05/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - T Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyết định số 763/QĐ-TTg ngày 21/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thu hồi và giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đông - T Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyết định số 40/2001/QĐ-UB ngày 15/5/2001 của UBND thành phố về
việc ban hành quy định về đền bù, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư trong dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - T Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyết định số 4492/QĐ-UB ngày 25/7/2001 của UBND thành phố về việc
điều chỉnh, di chuyển các hộ dân cư, cơ quan, đơn vị, vật kiến trúc khác thuộc phạm vi dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - Tây Thành phố H trên địa bàn Quận A, 2, 4, 6, 8 và huyện B.
Quyết định số 71/2001/QĐ-UB ngày 29/8/2001 của UBND thành phố về
việc quy định đơn giá các loại đất và các loại cây trồng để tính đền bù, hỗ trợ thiệt hại và sửa đổi bổ sung một số nội dung trong Bản quy định kèm theo Quyết định số 40/2001/QĐ-UB ngày 15/5/2001 của UBND thành phố trong dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - T Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyết định số 2175/QĐ-UB ngày 21/5/2002 của UBND thành phố về duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - T trên địa bàn Quận B (Phương án số 34/PA-UB ngày 02/5/2002 của Hội đồng bồi thường dự án).
Quyết định số 4344/QĐ-UB ngày 13/10/2003 của UBND thành phố về sửa
đổi, bổ sung một số nội dung trong Phương án 34/PA-UB ngày 02/5/2002.
Phương án tái định cư, tạm cư số 69/PA-UB ngày 10/9/2002 của Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bằng dự án Đại lộ Đ - Tây.
* Về trình tự, thủ tục: Nội dung thu hồi đất được thực hiện đúng theo quy
định của Luật Đất đai năm 1993.
* Về nội dung yêu cầu của người khởi kiện: Việc Công ty khởi kiện yêu
cầu hủy Quyết định số 3052/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 và Thông báo số 410/TB-UBND ngày 24/7/2019 của U về điều chỉnh một phần nội dung Điều 1, Điều 2 Quyết định số 5790/QĐ-UBND ngày 13/12/2005 của U là không có cơ sở, bởi:
- Về chính sách bồi thường, hỗ trợ:
UBND quận, Hội đồng bồi thường dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - T đã
thực hiện đúng theo quy định của Phương án số 34/PA-UB ngày 02/5/2002 đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 2175/QĐ-UB ngày 21/5/2002. Công ty đã đồng ý nhận toàn bộ tiền bồi thường, hỗ trợ là 2.170.669.576 đồng (tại các phiếu chi ngày 03/3/2005, ngày 11/3/2005) và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư thực hiện dự án.
- Về chính sách tái định cư:
Tại Phần E của Phương án số 34/PA-UB ngày 02/5/2002 của Hội đồng bồi
thường dự án đầu tư xây dựng Đại lộ Đ - Tây có quy định: “Việc tái định cư áp dụng đối với các hộ di chuyển toàn bộ nhà ở, đất ở”. Trường hợp Công ty có nhà ở, đất ở giải tỏa một phần và là tổ chức nên không đủ điều kiện tái định cư. Đồng thời UBND thành phố có Văn bản 3266/VP-ĐT ngày 17/4/2019 chỉ đạo không giải quyết tái định cư đối với trường hợp là tổ chức.
Việc U ban hành Quyết định số 3052/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 về điều
chỉnh một phần nội dung Điều 1, Điều 2 Quyết định số 5790/QĐ-UBND ngày 13/12/2005 của Chủ tịch U đối với Công ty là đúng theo trình tự, thủ tục, pháp lý của dự án, quy định của pháp luật cũng như chỉ đạo của UBND thành phố. Do đó, U vẫn giữ nguyên quyết định và Thông báo trên.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 819/2022/HC-ST ngày 09 tháng 6
năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
Căn cứ vào Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 3 Điều 55, điểm a khoản 2
Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206 và Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính 2015;
Căn cứ vào các Điều 24, 36 của Luật Đất đai năm 1993 và điểm 2 khoản
11 Điều 1 của Luật số 25/2001/QH10 ngày 29/6/2001 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993;
Căn cứ vào Điều 404 Bộ Luật dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện Công ty TNHH V.
Hủy toàn bộ Quyết định số 3052/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 của U và Thông báo số 410/TB-UBND ngày 24/7/2019 của U (nay là UBND thành phố T).
Buộc U hoặc người có thẩm quyền trong U (nay là UBND thành phố T)
thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo
theo luật định.
- Ngày 22/7/2022, người bị kiện UBND thành phố T có đơn kháng cáo toàn
bộ án sơ thẩm.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của Công ty.
Căn cứ kháng cáo, như trình bày của người bị kiện tại nội dung án sơ thẩm
đã nêu trên.
Tại Bản án hành chính phúc thẩm số: 89/2023/HC-PT ngày 23/02/2023 của
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện UBND thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 819/2022/HC-ST ngày 09/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra Bản án phúc thẩm còn quyết định về án phí.
- Ngày 08/6/2023 UBND thành phố T có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên.
- Ngày 23/9/2024, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 41/2024/KN-HC kháng nghị đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 89/2023/HC-PT ngày 23/02/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 89/2023/HC-PT ngày 23/02/2023 nêu trên; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
- Tại Quyết định giám đốc thẩm số: 53/2024/HC-GĐT ngày 14/11/2024,
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 41/2024/KN-HC ngày
23/9/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hủy bản án hành chính phúc thẩm số 89/2023/HC-PT ngày 23/02/2023 của
Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người bị kiện có kháng cáo xin xét xử vắng mặt, có người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp là ông Trần Quốc S trình bày: Giữ nguyên lời trình bày và yêu cầu kháng cáo của người bị kiện như nội dung trong đơn kháng cáo nêu trên. Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Ông Nguyễn Trần T1 đại diện của người khởi kiện trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các căn cứ như nội dung án sơ thẩm đã nêu, đồng ý đối với nhận định và quyết định của án sơ thẩm, nên yêu cầu Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến
thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính, không có vi phạm.
- Về nội dung:
Xét kháng cáo của người bị kiện UBND thành phố T, các căn cứ và yêu cầu kháng cáo của người bị kiện là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật vì Công ty V chỉ bị thu hồi một phần đất, và các loại giấy tờ thể hiện đất của người khởi kiện bị thu hồi đều đứng tên Công ty, không phải là cá nhân, nên không đủ điều kiện để nhận mua nền tái định cư. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của người bị kiện là hợp lệ được xem xét tại cấp phúc
thẩm theo quy định tại Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Về quan hệ pháp luật, thời hiệu, thẩm quyền xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm
xác định là đúng quy định tại Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
UBND thành phố T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều
225 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
- Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xét:
Về yêu cầu của người khởi kiện đối với người bị kiện:
Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 3052/QĐ-UBND ngày
01/8/2019 và Thông báo số 410/TB-UBND ngày 24/7/2019 của UBND thành phố T.
Về hình thức:
Quyết định số 3052/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 và Thông báo số 410/TB-
UBND ngày 24/7/2019 của UBND thành phố T đã được ban hành đúng thẩm quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
Về nội dung Quyết định số 3052/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 và
Thông báo số 410/TB-UBND ngày 24/7/2019 của UBND thành phố T có cùng nội dung về hủy bỏ cụm từ “cơ quan đơn vị” và huỷ bỏ dòng thứ tự 58 và 60 “tên công ty TNHH V” tại danh sách kèm theo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1.2.1] Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 42 Luật Đất đai 2003; Điều 34
Nghị định số 197/2004/NDD-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì việc bố trí tái định cư chỉ được áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất và thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác.
Tại điểm a khoản 7 Điều 12 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số
40/2001/QĐ-UB ngày 15/5/2001 của UBND Thành phố U về đền bù, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư Dự án Đại lộ Đ - Tây quy định: “Việc tái định cư được áp dụng cho các trường hợp có nhà ở, đất ở bị thu hồi và phải di chuyển toàn bộ, có giấy tờ hợp lệ hoặc không có giấy tờ hợp lệ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhưng thuộc đối tượng được đền bù thiệt hại về đất theo quy định tại điểm b (trừ điểm b.2), khoản 3, Điều 3 của bản quy định này, có yêu cầu tái bố trí với nguyên tắc một căn hộ/một lô nền đất theo quy hoạch hoặc một căn nhà khác ở khu tái định cư”.
Công ty là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật
Doanh nghiệp nên có tư cách pháp nhân, do ông Võ Mậu Quốc D là người đại diện theo pháp luật. Các Hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất năm 2003 đều thể hiện bên nhận chuyển nhượng là Công ty, do ông Võ Mậu Quốc D là người đại diện theo pháp luật ký nên có cơ sở xác định các phần đất nhận chuyển nhượng thuộc quyền sử dụng của Công ty. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, U đã cập nhật sang tên chủ sử dụng cho Công ty ngày 19/3/2003. Do đó, Công ty không thuộc đối tượng được xem xét tái định cư theo các quy định pháp luật nêu trên.
Ngày 24/7/2019, U có Thông báo số 410/TB-UBND thu hồi hủy bỏ
Thông báo số 402/TB-HĐ; nội dung Mục 6 tại Thông báo số 384/TB-HĐ; Phiếu đăng ký tái định cư của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án Đại lộ Đ - T3 đã cấp cho Công ty và ngày 01/8/2019, U ban hành Quyết định số 3052/QĐ-UBND điều chỉnh một phần nội dung Điều 1, Điều 2 Quyết định số 5790/Q Đ-UBND ngày 13/12/2005 của Chủ tịch U: Hủy bỏ tên Công ty V ra khỏi danh sách tái định cư là đúng, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng: Công ty do ông Võ Mậu Quốc D và ông Võ Mậu Quốc T đăng ký thành lập, khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà, ông D và ông T lấy tên Công ty Đ1 đứng tên.
Vì vậy, có thể xác định là các thành viên trong cùng một gia đình nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất, sau đó sử dụng để ở và làm trụ sở doanh nghiệp để xác định Công ty thuộc trường hợp được tái định cư là không đúng vì: Tại các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên nhận chuyển nhượng là Công ty; Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho chủ thể là Công ty; Trong Quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ: Biên bản kiểm kê; Biên bản bàn giao mặt bằng để thực hiện Dự án; Phiếu đăng ký tái định cư đều thể hiện chủ thể thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ là Công ty, không phải cá nhân ông D, ông T.
Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát; chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố T, sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty.
Về án phí hành chính sơ thẩm:
Do sửa án sơ thẩm nên tính lại án phí hành chính sơ thẩm, cụ thể Công ty
phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm.
Về án phí hành chính phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên UBND thành phố T không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241, Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 225, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Điều 42 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Điều 34 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 12 Quy định ban hành kèm theo Quyết định
số 40/2001/QĐ-UB ngày 15/5/2001 của UBND Thành phố U về đền bù, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư Dự án Đại lộ Đ - Tây;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố U, Thành phố Hồ Chí Minh, sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 819/2022/HC-ST ngày 09/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bác đơn khởi kiện của người khởi kiện Công ty TNHH V (tên cũ Công
ty TNHH V) về các yêu cầu sau:
2.1. Hủy toàn bộ Quyết định số 3052/QĐ-UBND ngày 01/8/2019 của Ủy ban nhân dân Quận U và Thông báo số 410/TB-UBND ngày 24/7/2019 của Ủy ban nhân dân Quận U (nay là Ủy ban nhân dân thành phố U).
2.2. Buộc Ủy ban nhân dân Quận U hoặc người có thẩm quyền trong Ủy ban nhân dân Quận U (nay là Ủy ban nhân dân thành phố U) thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
3. Án phí hành chính sơ thẩm:
Người khởi kiện Công ty TNHH V phải chịu án phí là 300.000 đồng, được
khấu trừ từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0045186 ngày 12/12/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Án phí hành chính phúc thẩm:
Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố U không phải nộp, hoàn trả Ủy ban nhân dân thành phố U 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0002921 ngày 18/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu VT (5), HS (2), 20b, (TK-PH). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tửu |