vanban.org

Bản án 441/2020/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Đoàn Thanh A.

[1] Về tình cảm: chị Nguyễn Đoàn Thanh A được ly hôn với anh Nguyễn Thái B. [2] Về con chung: giao cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 8/03/2015 cho chị Nguyễn Đoàn Thanh A tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thái B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu C mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đến khi cháu C tròn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Đoàn Thanh A.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441/2020/HN-ST
Ngày: 21/08/2020
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Quốc Thuần

+ Ông Lê Anh Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 311/2020/TLST-HNGĐ ngày 16/6/2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 07 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Đoàn Thanh A – sinh năm 1989;

Địa chỉ: Phường N, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Nguyễn Thái B - sinh năm: 1981;

Địa chỉ: ấp M, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

(Chị A có mặt; anh B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Nguyễn Đoàn Thanh A trình bày: chị và anh B sống chung năm 2013, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn do tính chất công việc của chị, sáng đi làm, chiều về nhà, vì vậy mẹ chồng không hài lòng, thường xuyên kiếm chuyện với chị khiến vợ chồng cãi nhau và mâu thuẫn. Chị và anh B ly thân từ tháng 7/2014 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh B.

- Về con chung: có một cháu tên Nguyễn Đức C, sinh ngày 8/03/2015, hiện nay đang sống với chị. Ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh B cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi, lao động được.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung, nợ riêng: không có

* Bị đơn anh Nguyễn Thái B vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Đoàn Thanh A. Về con chung: giao cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 8/03/2015 cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng. Anh B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về tài sản chung: không có, về nợ chung: không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Nguyễn Đoàn Thanh A và anh Nguyễn Thái B sống chung năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường N, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Nay chị A yêu cầu ly hôn với anh B và anh B cư trú trên địa bàn huyện Chợ Gạo nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Thái B mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Đoàn Thanh A, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về tình cảm: chị A yêu cầu ly hôn với anh B. Nguyên nhân ly hôn do công việc của chị là giáo viên, sáng đi làm, chiều mới về nhà nên mẹ chồng không hài lòng, điều này làm vợ chồng chị thường xuyên cãi nhau và phát sinh mâu thuẫn. Anh B trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh vẫn vắng mặt không lý do, không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị A, chứng tỏ anh không còn tha thiết gì đến tình cảm vợ chồng cũng như xây dựng hạnh phúc gia đình với chị A, chứng tỏ cuộc sống chung giữa anh B, chị A đã có mâu thuẫn xảy ra nhưng anh chị không có biện pháp nào để giải quyết và hàn gắn tình cảm với nhau trong thời gian cả hai ly thân. Do đó mục đích hôn nhân không đạt được, chị A anh B không thể cùng chung sống để xây dựng gia đình hạnh phúc, nên chị A yêu cầu ly hôn với anh B là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Đức C, sinh ngày 8/03/2015 hiện đang sống với chị A. Ly hôn chị A yêu cầu tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu C hiện đang sống ổn định với chị A nên tiếp tục giao cháu cho chị A nuôi dưỡng.

Về vấn đề cấp dưỡng: chị A yêu cầu cấp dưỡng anh B cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng. Chị A trình bày là anh B làm nghề tài xế, thợ chụp hình, nghề nghiệp ổn định. Anh B không có ý kiến gì đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị A. Do đó yêu cầu của chị A là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Đức C mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi cháu tròn 18 tuổi, lao động được.

Về tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: chị A trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Chị A, anh B phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Đoàn Thanh A.

[1] Về tình cảm: chị Nguyễn Đoàn Thanh A được ly hôn với anh Nguyễn Thái B.

[2] Về con chung: giao cháu Nguyễn Đức C, sinh ngày 8/03/2015 cho chị Nguyễn Đoàn Thanh A tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thái B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu C mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đến khi cháu C tròn 18 tuổi, lao động được. Thời gian cấp dưỡng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con, kể từ ngày chị A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh B không thực hiện theo quyết định nêu trên thì hàng tháng anh B còn phải trả số tiền lãi đối với số tiền cấp dưỡng tương ứng thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Không ai được quyền ngăn cản việc đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung sau khi ly hôn.

[3] Về án phí: chị Nguyễn Đoàn Thanh A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003831 ngày 10/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo nên chị đã nộp xong.

Anh Nguyễn Thái B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Đoàn Thanh A được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với anh Nguyễn Thái B vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ