vanban.org

Bản án 441/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc T - Nguyễn Thị B"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 441/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2018
V/v ly hôn giữa anh Nguyễn Ngọc T
và chị Nguyễn Thị B

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Lan;

Ông Nguyễn Văn Quỹ

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

Ngày 30 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 275/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số xx đường N, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số xx đường N, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 18-6-2018, bản tự khai ngày 27-6-2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị B có thời gian tìm hiểu rồi tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T - thành phố N vào ngày 06-7-1989 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8-2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị B không chung thủy và không tôn trọng mẹ anh. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện nhưng chị B không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh và chị B đã sống ly thân từ tháng 3-2018 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Nguyễn Ánh H, sinh ngày 15-01-1988 và Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 15-5-1992. Hiện nay hai con chung đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập.

- Về chia tài sản chung: Vợ chồng anh tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Nam Định đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị B nhưng chị B không đến Toà án theo giấy triệu tập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị B là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị B theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Thị B là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, anh T và chị B xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Từ tháng 3-2018 vợ chồng anh chị đã sống ly thân. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh T, xử cho anh T và chị B ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung:

Anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Thị B có 02 con chung là Nguyễn Ánh H, sinh ngày 15-01-1988 và Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 15-5-1992. Hiện nay hai con chung đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập. Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về chia tài sản chung:

Anh Nguyễn Ngọc T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Nguyễn Ngọc T là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Ngọc T và chị Nguyễn Thị B.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Ngọc T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp tại biên lai số 0000066 ngày 18-6-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

3. Anh Nguyễn Ngọc T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ