vanban.org

Bản án 44 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
̀
̀
HUYỆN GIÔNG RIÊNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 44/2021/HNGĐ-ST
Ngày 19/4/2021
V/v “Tranh chấp ly hôn,
về nuôi con chung ”

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phá n - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ Chuyên Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bửu Khánh

Ông Phan Ngọc Lợi

- Thư ký phiên Tòa: Bà Huỳnh Thị Phượng là thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Giồng Riề ng tham gia phiên Tòa . Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số : 467/2020/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2020 vụ tranh chấp “Xin ly hôn, về nuôi con chung” theo quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử sơ thẩm số: 68/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2021, giữa;

1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc N, sinh năm: 1997; địa chỉ: ấp A, xã H, thị xã N, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

2.Bị đơn: Anh Trương Vủ L, sinh năm: 1998; địa chỉ: ấp Thạnh A, xã Thạnh L, huyện G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ Á N:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/8/2020 và trong quá trình xét xử , nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc N trình bày: Chị và anh L trước khi cưới có tìm hiểu trước và được hai bên gia đinh tổ chức lễ cưới vào năm 2019, anh chị có đăng ký kết hôn tại

̀ Ủy ban nhân dân xã Thạnh L, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Sau khi cướ i cuô ̣c sống vợ chồng ha ̣nh phúc được khoảng vài tháng thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn . Nguyên nhân, do anh L không lo chí thú làm ăn, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau do anh L có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không tin tưởng nhau, đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ ngày 21/7/2020 cho đến nay.

- 1 -

Nay xét thấy cuô ̣c sống vợ chồng không còn ha ̣nh phúc , hôn nhân không thể tiếp tu ̣c duy tri, nên chi ̣ N yêu cầu xin được ly hôn vớ i anh L.

̀

Về con chung : Trong quá trinh chung sống vợ chồng có 01 con chung tên

̀ Trương Nguyễn Gia M, sinh ngày 21/7/2019 hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng với ông Trương Văn C (cha ruột anh L).

Trong quá trình chung sống vợ chồng L thường xuyên cãi nhau về tiền bạc, gia đình ông cũng hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do L sống ở bên gia đình vợ, thỉnh thoảng có về nhà thăm ông, ông cũng nghe nói do vợ L nghe lời cha mẹ dẫn đến vợ chồng cũng không thuận thảo với nhau. Nay con ông đã trưởng thành, tự quyết định lấy hôn nhân của mình, hiện con dâu ông cương quyết xin ly hôn với L nên việc N và L đoàn tụ là rất khó.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Quá trình thụ lý vụ án, chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành đúng theo quy định của pháp luật, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đương sự trong vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Các đương sự cũng chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa hôm nay đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng nhận thấy như sau:

Về hôn nhân: Chị N và anh L trước khi cưới có tìm hiểu trước và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2019, có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, vợ chồng sống ly thân và hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, nay chị N cương quyết xin ly hôn xét thấy hôn nhân của chị N và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị N và anh L ly hôn; Về con chung. Cháu M do chị N nuôi dưỡng, kể từ khi anh chị sống ly thân cho đến nay, cháu M ở với chị N phát triển tốt về mặt thể chất và tinh thần, chị cũng có công việc ổn định. Đề nghị Tòa án xem xét giao cháu M cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng do chị Niên có đủ điều kiện kinh tế và đảm bảo việc nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có; Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

[1]. Về tố tu ̣ng: Chị Nguyễn Thị Trúc N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp “Xin ly hôn, về nuôi con chung” giữa chị và anh L. Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòa án nhân dân huyê ̣n Giồng Riềng thu ̣ lý giải quyết vu ̣ án theo thủ tu ̣c sơ thẩm là đúng trinh tự, thủ tục tố tụng.

̀

Anh L đa đượ̃

c Tòa án tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng nhưng anh L không làm bản tự khai, cố tình vắng mă ̣t không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của anh L

- 2 -

không làm ảnh hưở ng đến quá trinh giải quyết vu ̣ án nên Tòa án căn cứ vào điểm b

̀ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Trương Vũ L.

[2]. Về nội dung:

{2.1} Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc N và anh Trương Vủ L trước khi cướ i nhau có tìm hiểu trước và được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn vào ngày 28/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh L, huyện G nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau do anh L có quan hệ ngoại tình, anh L không quan tâm chăm sóc vợ con. Đã nhiều lần gia đình hai bên can thiệp hòa giải, vợ chồng tự hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả, anh chị sống ly thân từ ngày 21/7/2020 cho đến nay, giữa chị và anh L không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai lấy sống. Nay chị N thấy rằng mâu thuẫn giữa chị và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết xin ly hôn với anh L. Do đó, áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Trúc N được ly hôn với anh Trương Vủ L.

{2.2} Về con chung : Vợ chồng anh chị có 01 ngườ i con chung tên Trương Nguyễn Gia M, sinh ngày 21/7/2019 hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý cho anh L nhưng anh L không thể hiện ý kiến về việc chị N xin được nuôi con chung của anh chị. Héi ®ång xÐt xö thÊy r»ng từ khi chị N và anh L sống ly thân cho đến nay, cháu M sống vớ i chi ̣ N, chị vẫn chăm sóc cho cháu phát triển tốt về mặt thể chất lẫn tinh thần, anh L không tới lui thăm nom chăm sóc con mà để mặc chị N nuôi con. Mặt khác, cháu M còn nhỏ, theo quy định tại khoản 03 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…”. Cho nên, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đinh; Xử giao cháu M cho chi ̣ N tiếp tu ̣c nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi (trừ

̀ trườ ng hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t ). Chị N không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nên anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền đến thăm nom , chăm sóc, giáo du ̣c con chung, không ai được quyền ngăn cản.

{2.3} Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

{2.4} Về nợ chung: Không có.

[3] Về án phi: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, ®iÓm a

́ kho¶n 5, §iÒu 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu nô ̣p quản lý và sử du ̣ng áp phi lê ̣ phi Tòa án:

́

́

Án phí ly hôn sơ thẩm chị Nguyễn Thị Trúc N phải nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền ta ̣m án phi mà chị N đa nô ̣̃ p theo

́ biên lai thu tiền số 5567 ngày 21/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị N đa nô ̣̃ p đủ.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

- 3 -

Căn cứ và o khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật dân sự ; khoản 1 Điều 56, khoản 2,3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng á p phi lê ̣ phi Tò a á n:

́

́

1. Về hôn nhân: Xử chấp nhâ ̣n cho chi ̣ Nguyễn Thị Trúc N được ly hôn vớ i anh Trương Vủ L.

2. Về con chung: Xử giao cháu Trương Nguyễn Gia M, sinh ngày 21/7/2019 cho chi ̣ N tiếp tu ̣c nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi (trừ trườ ng hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t ). Chị N không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nên anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền đến thăm nom , chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về á n phi ly hôn sơ thẩm chi ̣ Nguyễn Thị Trúc N phải nộp là 300.000

́ đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền ta ̣m án phi mà N đa nô ̣̃ p

́ theo biên lai thu tiền số 5567 ngày 21/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị N đa nô ̣̃ p đủ.

Chị N và anh L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày; chị N được tính kể ngày tuyên án (ngày 19/4/2021). Anh L được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết của Tòa án.

Cỡ chữ