vanban.org

Bản án 44

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

X phạt: Bị cáo Đỗ uốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586, 587, 590, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (s a đổi, bổ sung năm 2014). Buộc bị cáo Đ Qu c T bồi thường thiệt hại về tà…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đỗ Quốc T - 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? X phạt: Bị cáo Đỗ uốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h nh sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật t tụng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN
U
THÀ H PHỐ HỒ CHÍ MI H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 44/2022/HS-ST
Ngày: 26 - 4 - 2022.

NHÂN DANH

ƯỚC CỘ G HÒA XÃ HỘI CHỦ GHĨA VIỆT AM

TÒA Á H

U

- THÀ H PHỐ HỒ CHÍ MI H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Thị Trúc Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Cư

2. Bà Đặng Thị Huê

- Thư ký phiên tòa: Ông Dư ng Qu c Thái - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đ Văn Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 t s thẩm c ng khai vụ án h nh sự s thẩm thụ lý s 36/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra t s 69/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2022, đ i với bị cáo:

Đỗ uốc T (bị cáo khai tại phiên tòa có tên gọi khác là “Cu lỳ”); sinh năm 1994, tại Thành ph Hồ Chí Minh; n i cư trú: 2266/3/17 HTP, Ấp B, xã PX, huyện Nhà Bè, Thành ph Hồ Chí Minh; Qu c tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tr nh độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Con ng Đ Văn N (sinh 1958) và bà Phạm Thị L (sinh 1961); V , con: Chưa có; Tiền sự: Kh ng;

Tiền án: Ngày 18/12/2012, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành ph Hồ Chí Minh

phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”. Chấp hành ong h nh phạt tù ngày 02/8/2014 nhưng chưa thi hành phần án phí h nh sự s thẩm và tiền phạt bổ sung.

Nhân thân:

- Ngày 10/8/2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 7, Thành ph Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng do thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 13/7/2010, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành ph Hồ Chí Minh phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành ong h nh phạt tù ngày 24/11/2010; nộp án phí h nh sự s thẩm ngày 04/4/2011.

- Ngày 20/9/2017, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành ph Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp lý hành chính đưa vào c sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Ngày 07/01/2019, chấp hành ong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi kh i n i cư trú. (có mặt)

- Bị hại: Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1984; n i cư trú (hộ khẩu thường trú: Khóm ĐT, phường ĐT, thị ã BM, tỉnh VL; ch ở: 56 DN, Phường H, Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh). (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Chí T, sinh năm 1970; n i cư trú: 222/16D Lý Thái Tổ, Phường 1, Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

ỘI U G VỤ Á :

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Đ Qu c T và bà Nguyễn Kim T có quen biết với nhau từ trước. Khoảng 13 giờ, ngày 04/8/2021, trên đường về nhà, khi đi ngang qua nhà bà T (s 56 DN, Phường H, Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh), T ghé vào nhà bà T in nước u ng. Do là ch quen biết, bà T lấy c m, nước u ng cho T, rồi đi làm việc nhà. Trong lúc ăn u ng, T phát hiện e m t biển s 52F5-9330 của bà T dựng trước nhà kh ng người tr ng coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. L i dụng lúc bà T mất cảnh giác, T lén lút đi đến dắt e ra ngoài, rồi đi t m người để bán e. Khi T dẫn e đến trước nhà s 17 BHB, Phường MB, Quận 8, th gặp người đàn ng (kh ng rõ lai lịch) h i mua e và T đồng ý bán e cho người này với giá 500.000 đồng, T đã tiêu ài cá nhân hết s tiền bán e.

Sau khi T b đi, bà T phát hiện bị mất e, qua camera ghi h nh, bà T biết đư c T là người chiếm đoạt e của m nh. Do có quen biết nên bà T đã nhiều lần đến nhà T để yêu cầu T trả lại e nhưng e đã bị T bán nên kh ng thu hồi đư c. Ngày 21/10/2021, bà T đến C ng an Phường 2, Quận 8 tr nh báo và giao nộp h nh ảnh T chiếm đoạt tài sản qua trích uất camera. C ng an Phường 2, Quận 8 ghi nhận sự việc, đưa T về trụ sở C ng an phường làm việc và T khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Sau đó, hồ s chuyển đến C quan Cảnh sát điều tra C ng an Quận 8 điều tra, lý.

Tại bản Kết luận định giá tài sản s 239/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2021, Hội đồng định giá tài sản trong t tụng h nh sự ác định e m t biển s 52F5-9330 có trị giá là 5.600.000 đồng. Ngày 09/11/2021, C quan Cảnh sát điều tra C ng an Quận 8 ra quyết định khởi t vụ án, khởi t bị can đ i với Đ Qu c T về tội “Trộm cắp tài sản”.

Quá tr nh điều tra, Đ Qu c T đã khai nhận hành vi phạm tội của m nh, lời khai của bị cáo phù h p lời khai bị hại, h nh ảnh Camera ghi h nh và các tài liệu có trong hồ s vụ án.

Tại bản Cáo trạng s 39/CT-VKS-Q8 ngày 14/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh đã truy t Đ Qu c T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Đ Qu c T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã quy kết, chỉ đề nghị Hội đồng t

em t giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo, để sớm có c hội đư c trở về hòa nhập cuộc s ng. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại.

Bị hại bà Nguyễn Kim T tr nh bày: Đề nghị Hội đồng t

t bị cáo đúng quy định pháp luật, đồng thời yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá tài sản bị trộm cắp là 5.600.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân Quận 8 giữ quyền c ng t tại phiên tòa nêu quan điểm luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy t như nội dung cáo trạng. Từ những chứng cứ đư c thu thập h p pháp, đư c kiểm tra tại phiên tòa, bản tự khai, biên bản ghi lời khai đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Đ Qu c T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường h p chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. X t thấy, bị cáo có nhân thân ấu; ngoài ra, ngày 18/12/2012, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành ph Hồ Chí Minh phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, chưa đư c óa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường h p tái phạm. Tuy nhiên, cần em t về hoàn cảnh, bản thân bị nhiễm HIV; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải. Từ đó, đề nghị Hội đồng t áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017), x phạt bị cáo Đ Qu c T từ 01 năm đến 01 năm 09 tháng tù. Kh ng áp dụng h nh phạt bổ sung đ i với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đ Qu c T bồi thường cho bị hại Nguyễn Kim T s tiền 5.600.000 đồng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo, bị hại vẫn giữ nguyên quan điểm của m nh, kh ng bên nào đưa ra những t nh tiết mới cần phải tranh luận đ i đáp thêm.

Lời nói sau cùng, bị cáo in l i bị hại; in Hội đồng t

em t giảm nhẹ h nh phạt.

H ĐỊ H CỦA TÒA Á :

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do C quan Cảnh sát điều tra C ng an Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia t tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng tr nh tự, thủ tục quy định của Bộ luật T tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia t tụng khác kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều h p pháp.

Về hành vi, quyết định t tụng của C quan điều tra C ng an Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật t tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra, truy t và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia t tụng khác kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của c quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản h i cung bị can mà bị cáo đã tr nh bày nội dung lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của C quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều h p pháp.

[2] Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan là ng Lê Chí T đã đư c Tòa án t ng đạt, triệu tập h p lệ và có đ n yêu cầu đư c t vắng mặt. X t ng T đã có lời khai trong quá tr nh điều tra và việc ng T vắng mặt kh ng làm ảnh hưởng đến quá tr nh t nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật t tụng h nh sự, Hội đồng t vẫn tiến hành t vụ án.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản t :

Tại phiên tòa s thẩm, bị cáo Đ Qu c T khai nhận hành vi phạm tội của m nh, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của bị cáo tại c quan điều tra, phù h p với lời khai của bị hại, nội dung ghi h nh camera, và các tài liệu, chứng cứ khác đư c thu thập, nên có đủ c sở kết luận: Khoảng 13 giờ, ngày 04/8/2021, tại nhà s 56 DN, Phường H, Quận 8, Thành ph Hồ Chí Minh, bị cáo Đ Qu c T đã thực hiện hành vi l n lút chiếm đoạt e m t biển s 52F5-9330 do bà Nguyễn Kim T là người quản lý, s dụng h p pháp.

Với hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đã truy t bị cáo Đ Qu c T về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và h nh phạt đư c quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Tại bản Kết luận định giá tài sản s 239/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2021, Hội đồng định giá tài sản kết luận e m t biển s 52F5-9330 có trị giá là 5.600.000 đồng. Như vậy, bị cáo Đ Qu c T đã có hành vi “trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” nên bị cáo bị truy t và t về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là c ý và nguy hiểm cho ã hội, đã âm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ã hội nên cần phải phạt bị cáo với mức án tư ng ứng th mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Việc áp dụng h nh phạt, t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Xét, năm 2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 4 phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, bị cáo chưa đư c xóa án tích nay lại phạm tội do c ý nên thuộc trường h p tái phạm, là t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo có nhân thân ấu, liên tục có hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, đã đư c giáo dục, răn đe nhưng kh ng chịu s a chữa mà tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải có mức h nh phạt nghiêm đ i với bị cáo.

Tuy nhiên, khi lư ng h nh Hội đồng t

t thấy, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đ nh khó khăn, bản thân bị nhiễm bệnh HIV. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo.

Từ đó, Hội đồng t

em t áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) đ i với bị cáo, đồng thời cần cách ly bị cáo ra kh i đời s ng xã hội một thời gian nhất định mới tư ng ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét yêu cầu của bị hại về việc yêu cầu bị cáo bồi thường s tiền 5.600.000 đồng là có căn cứ, tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường s tiền trên cho bị hại nên Hội đồng xét x ghi nhận.

[7] Về lý vật chứng: Do tài sản bị chiếm đoạt kh ng thu hồi đư c nên kh ng có c sở để em t giải quyết.

[8] Về h nh phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) th bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng t thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đ nh khó khăn và khó thi hành nên Hội đồng t kh ng phạt bổ sung đ i với bị cáo.

[9] Xe m t biển s 52F5-9330 do ông Lê Chí T đứng tên đăng ký, là tài sản bị trộm cắp trong vụ án hiện kh ng thu hồi đư c. Trong quá tr nh điều tra và tr nh bày g i Tòa án, ng T ác định ng chỉ đứng tên giùm ng Lê Chí T (là anh ruột của ng T), ông T là người chung s ng như v chồng với bà Nguyễn Kim T. Chiếc e trên là tài sản của ông T giao cho bà T quản lý, s dụng, ng T đã chết vào năm 2018. Ông T ác định không liên quan đến tài sản và kh ng có ý kiến, yêu cầu g đ i với chiếc e trên. Hội đồng t

t thấy lời khai của ng T trong quá tr nh điều tra phù h p với lời khai của bị hại nên có căn cứ chấp nhận.

[10] Đ i với người đàn ng mua e của bị cáo T (tài sản do phạm tội mà có), do không ác định đư c lai lịch, C quan điều tra kh ng có c sở để điều tra, lý nên Hội đồng t kh ng em t trong vụ án này.

[11] Từ những phân tích trên đây, Hội đồng xét x xét thấy có căn cứ chấp nhận quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[12] Bị cáo phải chịu án phí h nh sự s thẩm và án phí dân sự s thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật t tụng h nh sự; Điều 2, Điều 6 Luật phí, lệ phí; Điều 3, Điều 21, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c Hội.

Vì các lẽ trên,

UYẾT ĐỊ H

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017);

X phạt: Bị cáo Đỗ uốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586, 587, 590, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (s a đổi, bổ sung năm 2014).

Buộc bị cáo Đ Qu c T bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Kim T s tiền là 5.600.000 (năm triệu sáu trăm ngh n) đồng. Thi hành việc bồi thường một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật t tụng h nh sự; Điều 2, Điều 6 Luật phí, lệ phí; Điều 3, Điều 21, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đ Qu c T chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí h nh sự s thẩm và 300.000 (ba trăm ngh n) đồng án phí dân sự s thẩm.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (s a đổi, bổ sung năm 2014) th người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (s a đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (s a đổi, bổ sung năm 2014).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, c quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, bên đư c thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản theo mức nêu trên th hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự, tư ng ứng với s tiền và thời gian chưa thi hành án.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền l i, nghĩa vụ của m nh. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đ i với bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án; đ i với người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa th thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đư c bản án hoặc ngày bản án đư c niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ