vanban.org

Bản án 44/BA — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Phạm Thị Mỹ Th và anh Trần Ngọc T.

Về con chung: tiếp tục giao cháu Trần Ngọc K, sinh ngày 02/6/2005 và Trần Ngọc H, sinh ngày 15/10/2015 cho chị Th nuôi. Anh T được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "XIN LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Phạm Thị Mỹ Th và anh Trần Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HNGĐ -ST
Ngày: 22 – 3 – 2021
V/v không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Tiến Sĩ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Minh Bền

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 695/2020/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 12 năm 2020 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mỹ Th; Sinh năm: 1982; Cư trú tại: số 33D/4, đường Lâm Thành Mậu, khóm A, Phường B, thành phố C, tỉnh D. Có mặt.

Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, Sinh năm: 1980; Cư trú tại: nhà không số, đường Lâm Thành Mậu, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh D. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về hôn nhân: Chị Th và anh T chung sống như vợ chồng từ năm 2003, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nữa nên chị Th xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 02 đứa tên: Trần Ngọc K, sinh ngày 02/6/2005 và Trần Ngọc H, sinh ngày 15/10/2015. Khi ly hôn chị Th yêu cầu nuôi con không đặt ra việc cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Chị Th khai không có.

Đối với anh T Tòa án có tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố thủ tục tố tụng: Anh T được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn xứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự theo luật định.

Về hôn nhân: Chị Th và anh T sống chung như vợ chồng từ năm 2003, tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định, nay xét hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn và vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng .

Về con chung: Có 02 đứa tên: Trần Ngọc K, sinh ngày 02/6/2005 và Trần Ngọc H, sinh ngày 15/10/2015 hiện hai cháu đang sống chung với chị Th. Khi ly hôn chị Th yêu cầu được nuôi 02 con. Xét thấy việc nuôi con là trách nhiệm của cha, mẹ và theo quy định tại Điều 81 luật hôn nhân và gia đình thì con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con nên Tòa án tiến hành ghi ý kiến của cháu K thì cháu xác định có nguyện vọng được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Riêng cháu H hiện đang sống với chị Th, do đó để theo nguyện vọng của cháu K và tránh việc xáo trộn cuộn sống của cháu H nên cần tiếp tục giao 02 con cho chị Th nuôi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chị Th không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: chị Th khai không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình chị Th phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 14, 53, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Phạm Thị Mỹ Th và anh Trần Ngọc T.

- Về con chung: tiếp tục giao cháu Trần Ngọc K, sinh ngày 02/6/2005 và Trần Ngọc H, sinh ngày 15/10/2015 cho chị Th nuôi. Anh T được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có

- Về nợ chung: Chị Th khai không có.

2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Th phải chịu. Ngày 25 tháng 12 năm 2020 chị Th đã dự nộp 300.000đ tại lai số 0000408 được giữ y sung quỹ nhà nước.

Chị Thoa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ