- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Q - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH ¯¯¯¯¯¯¯¯¯ | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2026/HS-ST Ngày: 16-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Thẩm phán: Ông Trần Thanh Tòng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Ngọc Lệ
Bà Ông Nguyễn Thanh Nhật
Bà kiều Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lam – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2026 theo định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh ngày: 01/01/1969; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ( nay là ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1934 (chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1936 (chết); Có vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm: 1969 và có 02 người con, lớn sinh năm 1995 và nhỏ 2000.Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam: từ ngày 27/12/2025 đến nay tại trại tạm giam số 2, Công an tỉnh T; Có mặt;
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Văn Q: Ông Nguyễn Minh T
- Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh T.
Bị hại: Ông Vũ Bá D1, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bị cáo Nguyễn Văn Q và bị hại Vũ Bá D1 có mâu thuẫn với nhau từ trước trong việc tranh chấp đất nên vào khoảng 17 giờ ngày 26/10/2024 khi cả hai gặp nhau trên đường, bị hại D1 chửi bị cáo Q. Bị cáo Q tức giận vì bị D1 chửi nên điều khiển xe mô tô đuổi theo bị hại D1. Khi đến trước nhà chị Nguyễn Cẩm T1 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An bị cáo Q dừng xe đối diện xe của bị hại D1, tay trái lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm từ trong cốp xe, cất giấu vào trong túi quần bên trái rồi đi đến dùng tay trái đánh trúng mặt bị hại D1 01 cái, bị hại D1 bước xuống xe thì bị bị cáo Q lấy dao từ trong túi quần cầm trên tay trái, lưỡi dao hướng về phía trước, trong tư thế đứng đối diện đâm liên tiếp 04 nhất trúng vào vùng ngực, bụng của bị hại D1, D1 giằng co dùng tay phải đẩy bị cáo Q qua lề đường đối diện thì bị cáo Q tiếp tục cầm dao đâm liên tiếp 03 nhát trúng vào vùng ngực, bụng bị hại D1. D1 bỏ chạy vào trong nhà ông Nguyễn Văn T2 tại ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh đóng cổng rào lại, bị cáo Q cầm dao đuổi theo nhưng không vào nhà được nên bỏ con dao vào túi quần và điều khiển xe đến đoạn đường 823D thuộc ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh) ném con dao xuống mương nước ven đường 823D rồi điều khiển xe đi về nhà. Bị hại D1 được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ - Đ, tỉnh Long An để cấp cứu và điều trị đến ngày 04/11/2024 thì được xuất viện.
Ngày 26/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn Q đến Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) đầu thú.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 388/KLTTCT-TTPY ngày 16/12/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L đối với Vũ Bá D1 đã kết luận như sau:
Các kết quả chính: 04 Sẹo vết thương vùng ngực kích thước nhỏ; 01 sẹo ống dẫn lưu đường nách trước ngực phải kích thước trung bình; 01 sẹo phẫu thuật đường giữa bụng trên và dưới rốn kích thước lớn; 03 sẹo vết thương vùng bụng bên phải kích thước từ nhỏ đến trung bình; 01 sẹo mở hậu môn ra da kích thước lớn; 01 sẹo ống dẫn lưu vùng bụng bên phải kích thước trung bình; Tổn thương màng phổi phải không để lại di chứng; Rách gan phải; Thủng ruột non; Thủng mặt trước đại tràng ngang;
Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Bá D1 tại thời điểm giám định là: 74%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Tỷ lệ từng tổn thương: 04 sẹo vết thương vùng ngực kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%, 01%, 01%, 01%; 01 sẹo ống dẫn lưu đường nách trước ngực phải kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%; 01 sẹo phẫu thuật đường giữa bụng trên và dưới rốn kích thước lớn. Tỷ lệ: 03%; 03 sẹo vết thương vùng bụng bên phải kích thước từ nhỏ đến trung bình. Tỷ lệ: 02%, 01%, 02%; 01 sẹo mở hậu môn ra da kích thước lớn. Tỷ lệ: 03%; 01 sẹo ống dẫn lưu vùng bụng bên phải kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%; Tổn thương màng phổi phải không để lại di chứng. Tỷ lệ: 03%; Rách gan phải. Tỷ lệ: 31%; Thủng ruột non. Tỷ lệ: 26%; Thủng mặt trước đại tràng ngang. Tỷ lệ: 36%; Không cấp cứu kịp thời có thể tử vong; 03 vết thương vùng bụng bên phải là vết thương chí mạng có thể dẫn đến tử vong.
Kết luận giám định số 2087/KL-KTHS ngày 03/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 01 đoạn video clip camera (ký hiệu A) được đặt tên "Video giao nộp" có mã MD5: 05AEA5CDB1ACBED897C0F7620D797C84 không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung.
Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 đôi dép tổ ong size L1, kích thước (14 x 09)cm; 01 quần tây dài bằng vải, màu xanh đen, dài 97cm, bên hong cạp quần có chữ “CỤC QUÂN NHU TCHC” màu xanh đen; 01 áo thun có cổ, tay ngắn, màu trắng, trên ngực trái có chữ “ADIDAS” màu xanh dương; 01 mũ lưỡi trai màu xám bên trong có chữ “GUCCI"; 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại REVO, màu đen, biển số 62P1-472.08, số máy: E456158519, số khung: 4D40E0108593, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định chuyển vật chứng đến Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh quản lý.
Bị hại Vũ Bá D1 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động và tổn thất tinh thần với tổng số tiền 100.000.000 đồng; Bị cáo Q đã bồi thường cho bị hại D1 30.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKSTN-P2 ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Q thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung trạng truy tố và xác định bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội “Giết người” là đúng, không oan.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm luận tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Giết người” thuộc trường hợp chưa đạt là đúng, không oan.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp tiền bồi thường một phần cho bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 14 đến 16 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại tại phiên tòa là bị cáo bồi thường cho bị hại 170.000.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép tổ ong size L, kích thước (14 x 09)cm; 01 quần tây dài bằng vải, màu xanh đen, dài 97cm, bên hong cạp quần có chữ “CỤC QUÂN NHU - TCHC” màu xanh đen; 01 áo thun có cổ, tay ngắn, màu trắng, trên ngực trái có chữ “ADIDAS” màu xanh dương; 01 mũ lưỡi trai màu xám bên trong có chữ “GUCCI";
Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại REVO, màu đen, biển số 62P1-472.08, số máy: E456158519, số khung: 4D40E0108593 thuộc sở hữu của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Luật sư thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội chưa đạt, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị xử dưới mức thấp nhất cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai từ trước, lúc 17 giờ ngày 26/10/2024, trong lúc điều khiển xe mô tô đến khu vực ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là ấp T, xã H, tỉnh Tây Ninh), bị cáo Nguyễn Văn Q sử dụng 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, là hung khí nguy hiểm, đâm liên tiếp 07 nhát vào ngực, bụng bị hại Vũ Bá D1 dẫn đến bị hại D1 bị tổn thương màng phổi phải không để lại di chứng, rách gan phải, thủng ruột non, thủng mặt trước đại tràng ngang với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 74%, nên hành vi của bị cáo Q đã phạm tội giết người thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách quyết liệt, dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm 07 nhát vào cơ thể bị hại cho đến khi bị hại chạy vào nhà dân gần đó khóa cửa cổng lại, bị cáo không vào được bị cáo mới dừng lại, việc bị hại không chết là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, nên đối với bị cáo cần phải cách ly khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt cần xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để tuyên mức án tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Bị cáo Q cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường một phần chi phí điều trị thương tích cho bị hại, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đến cơ quan Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 15, Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình. [5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích là 100.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng cho hai con bị hại do bị hại không lao động được là 100.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên ghi nhận, bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng, còn tiếp tục bồi thường 170.000.000 đồng. [6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép tổ ong size L, kích thước (14 x 09)cm; 01 quần tây dài bằng vải, màu xanh đen, dài 97cm, bên hong cạp quần có chữ “CỤC QUÂN NHU - TCHC” màu xanh đen; 01 áo thun có cổ, tay ngắn, màu trắng, trên ngực trái có chữ “ADIDAS” màu xanh dương; 01 mũ lưỡi trai màu xám bên trong có chữ “GUCCI";
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại REVO, màu đen, biển số 62P1-472.08, số máy: E456158519, số khung: 4D40E0108593 thuộc sở hữu của bị cáo không phải là phương tiện phạm tội lẽ ra phải trả cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường trách nhiệm dân sự nên tiếp tục giao cơ quan thi hành án tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50, Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2025.
Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Q 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Vũ Bá D1 170.000.000 (một trăm bảy mươi triệu) đồng.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép tổ ong size L, kích thước (14 x 09) cm; 01 quần tây dài bằng vải, màu xanh đen, dài 97cm, bên hong cạp quần có chữ “CỤC QUÂN NHU - TCHC” màu xanh đen; 01 áo thun có cổ, tay ngắn, màu trắng, trên ngực trái có chữ “ADIDAS” màu xanh dương; 01 mũ lưỡi trai màu xám bên trong có chữ “GUCCI";
Giao Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại REVO, màu đen, biển số 62P1-472.08, số máy: E456158519, số khung: 4D40E0108593 để đảm bảo thi hành án.
Các vật chứng trên do Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 3 năm 2026.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.500.000 (tám triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các 6, 7, và 9 Luật hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TANDTC tại TP.HCM; - VKSNDTC tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |