vanban.org

Bản án 44/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Ngọc V phạm tội“Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Ngọc V 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2026. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Ngọc V - chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Ngọc V phạm tội“Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2026/HS-ST
Ngày: 06-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quang Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng

2. Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Tín, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.

Thư ký hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Đinh Văn Dương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử hình sự của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi và điểm cầu thành phần: Phòng xét xử của Phân trại tạm giam Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2026/TLST-HS ngày 25/3/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2026/QĐXXST-HS ngày 06/4/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Ngọc V, sinh ngày 16/01/2003 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số: 051203012715; nơi cư trú: Thôn P, xã A, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Ngọc Đ và bà Phạm Thị G; vợ, con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 13/01/2026 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Quảng Ngãi. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Ngọc V là đối tượng đã được đưa đi cai nghiện ma tuý tự nguyện từ ngày 26/10/2024 đến ngày 21/6/2025 tại Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Ninh Thuận. Ngày 21/6/2025, Mai Ngọc V được Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện tự nguyện số 149/GXN-CSCNMTNT. Sau khi cai nghiện xong, Mai Ngọc V trở về địa phương sinh sống ở địa chỉ thôn P, xã A, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 24/6/2025, Uỷ ban nhân dân xã A, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 408/QĐ-UBND đối với Mai Ngọc V, thời hạn quản lý từ ngày 24/6/2025 đến ngày 24/6/2026 và Công an xã A, tỉnh Quảng Ngãi đã lập Hồ sơ quản lý người sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Mai Ngọc V.

Ngày 30/11/2025, khi Mai Ngọc V đang đi hành nghề đánh bắt hải sản ở vùng biển phía Bắc, khi cập cảng cá để bán cá (V không nhớ rõ cảng cá nào) thì V muốn sử dụng ma tuý nên đã tìm hỏi 01 người đàn ông (V không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 300.000 đồng ma tuý “đá”. Người đàn ông này bán cho V 01 tép ma tuý “đá” và 01 cái nỏ thuỷ tinh. Sau khi mua được ma tuý và nỏ thuỷ tinh, V tìm chỗ vắng ở cảng cá để sử dụng ma túy. V lấy bộ dụng cụ đã chuẩn bị sẵn gồm chai nước được đục 02 lỗ và 01 máy khò lửa, lắp nỏ thuỷ tinh vào 01 lỗ, 01 còn lại thì đã lắp ống hút. Sau đó, V đổ ma tuý vào nỏ, dùng bật lửa hơ nóng nỏ thuỷ tinh để ma tuý chảy ra rồi ngậm ống hút và hút. Sau khi hút ma túy xong, V vứt bộ dụng cụ và máy khò lửa xuống biển rồi lên tàu về lại địa phương ở thôn Phổ Trung, xã An Phú, tỉnh Quảng Ngãi.

Đến ngày 09/12/2025, Công an xã A, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành mời V đến Trụ sở Công an xã A để làm việc về việc quản lý người sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú. Qua test nhanh chất ma tuý đối với V, kết quả: Dương tính với chất ma tuý, loại MDMA và Methamphetamine. Công an xã A đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ và niêm phong mẫu nước tiểu của V.

Tại Kết luận giám định số 1874/KL-KTHS ngày 22/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:

Mẫu nước tiểu ghi thu của Mai Ngọc V, sinh năm 2003, nơi cư trú: thôn P, xã A, tỉnh Quảng Ngãi gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Cáo trạng số 09/CT-VKSQNI-KV ngày 24/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi truy tố bị cáo Mai Ngọc V về tội:“Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Mai Ngọc V từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt, làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Ngọc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:

Bị cáo Mai Ngọc V là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật phòng chống ma túy từ ngày 24/6/2025 đến ngày 24/6/2026. Tuy nhiên, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên ngày 30/11/2025, bị cáo Mai Ngọc V đã mua và sử dụng 01 tép ma tuý “đá” (Methamphetamine) từ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch.

Tại Kết luận giám định số 1874/KL-KTHS ngày 22/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: Mẫu nước tiểu ghi thu của Mai Ngọc V gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2025 của Chính phủ.

Do đó, hành vi của bị cáo Mai Ngọc V đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, nên Cáo trạng số 09/CT-VKSQNI-KV ngày 24/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Mai Ngọc V là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được bị cáo đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại địa phương và biết việc sử dụng trái phép ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, do đó bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần phải đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Mai Ngọc V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có ông nội Mai Ngọc Q được tặng Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đầy, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về các vấn đề khác:

Đối với người bán ma túy cho bị cáo Mai Ngọc V: Bị cáo không biết nhân thân, lai lịch, đặc điểm của đối tượng bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin để tiến hành xác minh.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Mai Ngọc V phạm tội“Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Ngọc V 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2026.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mai Ngọc V phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ