vanban.org

Bản án 44/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Văn L. Về con chung: Giao con chung là Vũ Thị Ngọc Q, sinh ngày 20/02/2024 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L tự thoả thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị H ly hôn anh Vũ Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27-3-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lã Anh Tuấn

Bà Hoàng Thị Chính

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Hữu Hảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 29/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 2003; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Tổ Q, phường P, thành phố H; nơi ở hiện tại: Xóm M, thôn T, xã C, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Vũ Văn L, sinh năm 1992; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Tổ Q, phường P, thành phố H; nơi ở hiện tại: Tổ Đ, phường P, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 15 tháng 9 năm 2026, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2023, chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 08/9/2023 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận K, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 5 năm 2025. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, tình cảm ngày càng rạn nứt. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2025 đến nay, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

- Về con chung: Chị H và anh L có 01 con chung là Vũ Thị Ngọc Q, sinh ngày 20/02/2024. Từ khi vợ chồng sống ly thân, chị là người trực tiếp nuôi cháu Q. Chị H đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị và anh L tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H và anh L không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Vũ Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nên Tòa án không ghi được lời khai của anh L.

* Tại phiên tòa:

Chị H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 1 Điều 228 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6; Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Văn L. Về con chung: Giao con chung là Vũ Thị Ngọc Q, sinh ngày 20/02/2024 cho chị H trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thoả thuận nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị H và anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về pháp luật tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn cư trú tại phường P, thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:

Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự

- Về áp dụng pháp luật nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn giữa chị H và anh L qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện anh chị có phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống. Chị H và anh L hiện đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của chị H và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Về con chung:

Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L có 01 con chung là Vũ Thị Ngọc Q, sinh ngày 20/02/2024. Chị H đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị và anh L tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Xét, cháu Q còn nhỏ, hiện đang ở với mẹ. Vì vậy, yêu cầu của chị H phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

+ Về tài sản chung:

Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+ Về án phí:

Chị Phạm Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Văn L.

- Về con chung: Giao con chung là Vũ Thị Ngọc Q, sinh ngày 20/02/2024 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L tự thoả thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003309 ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ