vanban.org

Bản án 44/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Y Liam B được ly hôn với bà H Mrâo N.

Về con chung: Giao cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022 cho bà H Mrâo Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Y Liam B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Y Liam B được ly hôn với bà H Mrâo N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 6 - 2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Anh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thiện.

Bà Lê Thị Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hoài – là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2026 tại phòng xử án, trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 5 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2026/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Y Liam B, sinh năm 2000 - Có mặt

Địa chỉ: Buôn H, xã D, tỉnh Đắk Lắk

Bị đơn: Bà H Mrâo N, sinh năm 2002 - Vắng mặt

Địa chỉ: Buôn E, xã D, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Y Liam B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Y Liam B và bà H Mrâo N đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, C tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã D, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 26/9/2023. Sau khi về chung sống thì vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do cuộc sống chung của vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và mâu thuẫn với gia đình vợ dẫn đến xô xát và ông Y Liam B đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà H Mrâo Niê 22.000.000 đồng, nên hiện nay không còn tình cảm yêu thương, chăm sóc nhau nữa, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Nguyện vọng của ông Y Liam B xin được ly hôn với bà H Mrâo N.

Về con chung: Ông Y Liam B và bà H Mrâo N có 01 con chung là H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022.

Khi ly hôn ông Y Liam B có nguyện vọng giao cháu H Sun Ny N1 cho bà H Mrâo Niê được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới lúc cháu tròn 18 tuổi và ông Y Liam B sẽ cấp dưỡng nuôi con một lần là 10.000.000 đồng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng bị đơn bà H Mrâo Niê trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H Mrâo N và ông Y Liam B đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã D, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 26/9/2023. Sau khi về chung sống thì vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do cuộc sống chung của vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông Y Liam B đã đánh mẹ vợ phải đi điều trị hết 2.000.000 đồng và đã thỏa thuận tự nguyện bồi thường 22.000.000 đồng cho gia đình bà H Mrâo N, sau đó ông Y Liam B đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay không thể hàn gắn được.

Nay ông Y Liam B làm đơn xin ly hôn thì bà H Mrâo N đồng ý ly hôn, Tuy nhiên bà H Mrâo N không ký biên bản thuận tình ly hôn, vì theo phong tục người ê đê, bà H Mrâo N phải bỏ tiền ra cưới rể (thách cưới) với số tiền 150.000.000 đồng, bây giờ ly hôn thì phải trả lại cho gia đình bà 150.000.000 đồng thì bà mới ký thuận tình ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Về con chung: Bà H Mrâo N và ông Y Liam B có 01 con chung là H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022.

Khi ly hôn bà H Mrâo Niê có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022 cho tới lúc cháu tròn 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Yêu cầu ông Y Liam B phải cấp dưỡng nuôi cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022 một lần số tiền là 10.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Đắk Lắk về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tối cao.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Cho ông Y Liam B được ly hôn với bà H Mrâo N.

Về con chung: Giao cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022 cho bà H Mrâo Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Y Liam B và bà H Mrâo N. Buộc ông Y Liam B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022 một lần với số tiền 10.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị HĐXX không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Căn cứ vào đơn khởi kiện của ông Y Liam B đề ngày 09/4/2026, Toà án nhân dân Khu vực 5 - Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, tại thời điểm ông Y Liam B làm đơn khởi kiện, bị đơn bà H Mrâo N cư trú tại xã D, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy, Toà án nhân dân Khu vực 5 - Đắk Lắk thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về chấp hành quy định pháp luật: Tại phiên tòa lần thứ nhất bị đơn bà H Mrâo Niê vắng mặt, nên HĐXX đã hoãn phiên tòa và tống đạt quyết định hoãn phiên tòa cho bà H Mrâo N. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà H Mrâo N vắng mặt. Do vậy, HĐXX áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Y Liam B và bà H Mrâo N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 26/9/2023 tại UBND xã D, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đồng thời xảy ra mâu thuẫn với gia đình bên vợ. Hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau và đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Tại quá trình giải quyết vụ án, bà H Mrâo N cũng đồng ý ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của ông Y Liam B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung: Ông Y Liam B và bà H Mrâo N có 01 con chung là cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022.

Xét thấy từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu H Sun Ny N1 đang do bà H Mrâo N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu còn nhỏ, cần sự chăm sóc thường xuyên của người mẹ. Bà H Mrâo N có nguyện vọng tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu và ông Y Liam B cũng đồng ý giao con cho bà H Mrâo Niê chăm sóc, nuôi dưỡng.

Để đảm bảo điều kiện ổn định về mọi mặt cho sự phát triển của cháu H Sun Ny N1, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu H Sun Ny N1 cho bà H Mrâo Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Y Liam B đề nghị cấp dưỡng một lần số tiền 10.000.000 đồng. Bà H Mrâo N đồng ý, nên HĐXX công nhận sự thỏa thuận trên để buộc ông Y Liam B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con một lần với số tiền 10.000.000 đồng.

Đối với việc bà H Mrâo Niê yêu cầu ông Y Liam B hoàn trả số tiền thách cưới 150.000.000 đồng theo phong tục dân tộc Ê Đê: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H Mrâo Niê không có làm đơn khởi kiện và chưa thực hiện nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, nên HĐXX xác định đây chỉ là ý kiến của bà H Mrâo N. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự đều xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Y Liam B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Đắk Lắk tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Y Liam B được ly hôn với bà H Mrâo N.

2. Về con chung: Giao cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022 cho bà H Mrâo Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Ông Y Liam B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Y Liam B và bà H Mrâo N. Buộc ông Y Liam B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H Sun Ny N1, sinh ngày 18/3/2022 một lần với số tiền 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên, HĐXX không giải quyết.

5. Về án phí: Ông Y Liam B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.

Tổng cộng ông Y Liam B phải chịu 600.000 đồng án phí. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004149 ngày 16/4/2026 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Đắk Lắk. Ông Y Liam B còn phải nộp 300.000 đồng án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ