- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mua Thị V - Ly A Pó"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Mua Thị V được ly hôn với anh Ly A P.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2026/HNGĐ-ST Ngày: 30/01/2026 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Quốc.
2. Ông Hà Ngọc Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Danh -Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2-Sơn La .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 30/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2025/TLST- HNGĐ ngày 19/11/2025 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/01/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mua Thị V; Sinh ngày: 01/01/1991; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Ly A P; Sinh ngày: 10/11/1990; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Sơn La; Hiện đang chấp hành án tại Đội 23 phân trại số 1 Trại giam Y- Cục C10 Bộ Công an. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 31/10/2025, bản tự khai tại Toà án nhân dân khu vực 2-Sơn La. Nguyên đơn chị Mua Thị V trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Ly A P kết hôn với nhau từ ngày 16/7/2013 tại UBND xã P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (Nay là xã C, tỉnh Sơn La) kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối. Sau khi kết hôn chị và anh P chung sống hoà thuận hạnh phúc thì đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do anh P mua bán trái phép chất ma túy bị xử án chung thân hiện đang chấp hành án tại Trại giam Y- Cục C10 Bộ Công an. Hiện đã ly thân không ai quan tâm đến ai. Chị V nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc, không thể chờ đợi anh P được nữa nên đã viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La giải quyết cho chị được ly hôn anh Ly A P.
- Về con chung, cấp dƣỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung: Cháu Ly Anh L, sinh ngày 27/02/2015, cháu Ly Thị V, sinh ngày 27/8/2017. Nay ly hôn nguyện vọng của chị V là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 cháu cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi các con chung.
- Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân chúng tôi có các tài sản sau:
+ Một căn nhà 03 gian dựng trên diện tích đất khoảng 700m2 trị giá 10.000.000 đồng.
+ 01 mảnh đất nương diện tích đất khoảng 700m2 trị giá 5.000.000 đồng.
+ 01 mảnh đất nương diện tích đất khoảng 0,1ha trị giá 20.000.000 đồng.
+ 05 mảnh đất nương khoảng 1,5 ha do ông, bà nội cấp cho trị giá 24.000.000 đồng.
+ 01 xe máy HONDA, biển kiểm soát 26M1-06457 trị giá 5.000.000 đồng.
Chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị quản lý và sử dụng vì chị còn phải nuôi 02 con nhỏ cho đến khi các cháu trưởng thành vì anh P đang chấp hành án chung thân không biết bao giờ mới ra tù. Riêng 01 xe máy HONDA sẽ để lại cho 02 con khi các cháu trưởng thành.
- Về tài sản riêng: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Ngày 30/12/2025 chị Mua Thị V có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
* Tại bản tự khai ngày 27/11/2025 (có xác nhận của Trại giam Y- Cục C10 Bộ Công an) anh Ly A P khai xác nhận:
- Về hôn nhân: Quá trình kết hôn giữa anh và chị Mua Thị V như lời khai của chị V là đúng. Anh đồng ý ly hôn với chị Mua Thị V.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung đúng như chị V khai. Anh P nhất trí như đề nghị của chị V.
- Về tài sản chung: Đúng như chị V khai, các mảnh đất nương vợ chồng mượn anh trai Ly Sếnh Nhìa, tạm thời giao cho chị V quản lý, sử dụng để nuôi con, nếu anh trai đòi sẽ trả lại.
- Về tài sản riêng, nợ chung: Không có, đúng như chị V khai.
* Tại bản tự khai bổ sung ngày 21/01/2026 (có xác nhận của Trại giam Y-Cục C10 Bộ Công an) anh Ly A P khai xác nhận:
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung đúng như chị V khai. Anh P đề nghị giao cháu Ly Anh L cho anh trai Ly A Giàng thay anh P chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị V không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng. Nguyên đơn chị V đề nghị không tiến hành hòa giải và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại Trại giam Y- Cục C10 Bộ Công an anh Ly A P đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Anh Ly A P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán : Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến trước khi ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thụ lý đúng thẩm quyền tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ đúng quy định. Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, gửi kịp thời các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 97, Điều 195, Điều 196, Điều 198, Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng :
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Mua Thị V, bị đơn anh Ly A P: Chị V, anh P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Đề nghị:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Mua Thị V được ly hôn với anh Ly A P.
- Về con chung: Xử giao cháu Ly Anh L, sinh ngày 27/02/2015, cháu Ly Thị V, sinh ngày 27/8/2017 cho chị Mua Thị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Mua Thị V.
* Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu giải quyết việc ly hôn của nguyên đơn chị Mua Thị V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2-Sơn La, bị đơn có nơi cư trú tại xã C, tỉnh Sơn La nên Tòa án nhân dân khu vực 2-Sơn La thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Mua Thị V, bị đơn anh Ly A P: Chị V, anh P đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.
. Về hôn nhân: Chị Mua Thị V và anh Ly A P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn với nhau từ ngày 16/7/2013 tại UBND xã P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (Nay là xã C, tỉnh Sơn La) kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn chị và anh P chung sống hoà thuận hạnh phúc thì đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do anh P mua bán trái phép chất ma túy bị xử án chung thân hiện đang chấp hành án tại Trại giam Y- Cục C10 Bộ Công an. Hiện đã ly thân không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị V có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P và chị V giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh P, anh P nhất trí ly hôn với chị V. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị V ly hôn với anh P.
. Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 02 con chung: Cháu Ly Anh L, sinh ngày 27/02/2015, cháu Ly Thị V, sinh ngày 27/8/2017. Nay ly hôn nguyện vọng của chị V là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 cháu cho đến khi các cháu trưởng thành. Không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi các con chung.
Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, xem xét chị V có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Tại biên bản ghi ý kiến cháu cháu Ly Anh L và cháu Ly Thị V đều có nguyện vọng muốn ở với chị V. Tại biên bản xác minh tại UBND xã C, tỉnh Sơn La xác nhận cháu Ly Anh L và cháu Ly Thị V đang ở với chị V có đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng 02 cháu. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử xét thấy việc giao 02 cháu Ly Anh L và cháu Ly Thị V cho chị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu là hợp tình, hợp lý để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu có những điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý, phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Việc anh P có đề nghị giao cháu Ly Anh L cho anh trai Ly A Giàng thay anh P chăm sóc, nuôi dưỡng là không có căn cứ chấp nhận. Chị V không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận, sau khi ly hôn anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó căn cứ Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
.Về tài sản chung: Chị Mua Thị V rút toàn bộ yêu cầu về chia tài sản chung của vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Ly A P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về tài sản riêng: Không có.
. Về nợ chung: Không có.
. Về án phí: Chị Mua Thị V là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Mua Thị V.
. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Mua Thị V được ly hôn với anh Ly A P.
2. Về con chung: Xử giao cháu Ly Anh L, sinh ngày 27/02/2015, cháu Ly Thị V, sinh ngày 27/8/2017 cho chị Mua Thị V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dƣỡng nuôi con chung: Anh Ly A P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Mua Thị V.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Mua Thị V, anh Ly A P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2- Sơn La(02 bản); - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; - UBND xã C, tỉnh Sơn La; - Các đương sự. - Lưu án văn; - Lưu:Hồ sơ. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Tiến Hải |