- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn số 44"
- Tòa quyết gì? Cho anh Thiều Văn T được ly hôn chị Đỗ Hồng Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2026/HNGĐ-ST Ngày 13-5-2026 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Lưu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển và ông Trần Văn Học
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thúy, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10
- Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Hải Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 144/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Thiều Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn Xóm C, xã N, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
2. Bị đơn: Chị Đỗ Hồng Q, sinh năm 1999; địa chỉ: thôn Xóm C, xã N, tỉnh Phú Thọ; hiện đang cư trú: số 320, đường Đ16, quận NT, thành phố Cao Hùng, Đài Loan, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 9 năm 2025 và những lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn anh Thiều Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Đỗ Hồng Q trên cơ sở được đăng ký kết hôn ngày 28/7/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã N, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2020 chị Q đi lao động ở Đài Loan, đến cuối năm 2021 anh chị không còn liên lạc, không có trách nhiệm gì với nhau. Kể từ khi đi lao động tại Đài Loan đến nay, chị Q đã 04 lần về, mỗi lần biết chị về quê hương, anh đều đến gặp dàn xếp vợ chồng đoàn tụ nhưng chị từ chối và chị đều về nhà mẹ đẻ chị cùng địa phương với anh. Nay anh xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Q.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Anh T xác định có 01 con là cháu Thiều Đỗ Gia K, sinh ngày 10/12/2017 hiện đang sống cùng anh. Ly hôn, anh T đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K, không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên toà, anh T yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 6 năm 2026 đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn là chị Đỗ Hồng Q vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Đồng thời tại bản tự khai và các tài liệu chứng cứ khác đã được lập tại Văn phòng Kinh tế - Văn hoá Việt tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan (Trung Quốc), chị Q xác nhận về quá trình kết hôn, thời gian ly thân như anh T trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn.
Về quan hệ giao nuôi con chung: Chị Q xác định có 01 con như anh T trình bày. Cháu K đang sống cùng anh T. Ly hôn, chị đề nghị để anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K. Chị cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000đ/tháng.
Về quan hệ tài sản: Chị Q không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về trình tự, thủ tục tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã T theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 474, 475, 476, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh T được ly hôn chị Q; Về giao nuôi con chung: Giao cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Thiều Đỗ Gia K, sinh ngày 10/12/2017. Chị Q cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 6 năm 2026 cho đến khi cháu K 18 tuổi. Chị Q có quyền thăm nom con, không ai được cản trở; anh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm; chị Q phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Anh Thiều Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đỗ Hồng Q. Chị Q cư trú tại xã N, tỉnh Phú Thọ, hiện nay đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85 ngày 27/6/2025 Quốc Hội sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, chị Đỗ Hồng Q vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Thiều Văn T và chị Đỗ Hồng Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nay là xã N, tỉnh Phú Thọ. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2020, anh chị sống ly thân nhau do do bất đồng quan điểm, chị Q đi lao động ở Đài Loan. Trong thời gian đi lao động ở Đài Loan, chị Q có 04 lần trở về Việt Nam nhưng không lần nào anh chị đoàn tụ. Xét thấy, anh chị sống ly thân nhau thời gian dài, không quan tâm hay có trách nhiệm gì với nhau, không dàn xếp được tình cảm. Do vậy, xác định quan hệ hôn nhân của anh T và chị Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T được ly hôn chị Q là phù hợp.
. Về quan hệ giao nuôi con chung: Anh T, chị Q có 01 con là cháu Thiều Đỗ Gia K, sinh ngày 10/12/2017. Kể từ khi ly thân đến nay, cháu vẫn sống cùng anh T và vẫn phát triển bình thường. Ly hôn, anh T, chị Q đều xác định để anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K, chị Q cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 6 năm 2026 cho đến khi cháu K 18 tuổi. Xét nguyên vọng của các đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật và cháu K cũng mong muốn được tiếp tục sống cùng anh T nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Về quan hệ tài sản: Anh T, chị Q không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
. Về án phí: Anh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Q phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
. Về ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, cần xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 474, 475, 476, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án, xử.
1. Cho anh Thiều Văn T được ly hôn chị Đỗ Hồng Q.
2. Giao cho anh Thiều Văn T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Thiều Đỗ Gia K, sinh ngày 10/12/2017. Chị Đỗ Hồng Q cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 6 năm 2026 cho đến khi cháu K 18 tuổi và có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
3. Anh Thiều Văn T phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003397 ngày 13 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Anh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Q phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 10 – Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ; - UBND xã N; - Các đương sự; - Lưu VP-HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Lưu |