vanban.org

Bản án 44/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử một phần đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là ông Bùi Văn T phải trả lãi chậm trả và trả khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1 về việc yêu cầu bị đơn ông Bùi Văn T phải trả 02 khoản tiền vay tại hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024 và Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025. Buộc bị đơn ông Bùi Văn T phải chịu trách nhiệm trả nợ cho V1 số tiền gốc còn nợ và tiền lãi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty J - Ông T"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử một phần đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là ông Bùi Văn T phải trả lãi chậm trả và trả khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2026/DS-ST.
Ngày: 28/8/2026.
V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HOÁ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tường Vân

2. Ông Đinh Văn Tân

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Khu vực 7 - tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2026 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân Khu vực 7 - Thanh Hoá xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 60/2026/TLST- DS ngày 23 tháng 3 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1024/2026/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 1035/2026/QĐST–DS ngày 18 tháng 8 năm 2026 đối với các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1)

Địa chỉ: Số H L, phường Đ, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc Q – Chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ pháp lý khách hàng cá nhân 02.

- Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lường Hữu H – Chuyên viên xử lý nợ.

Địa chỉ: Số B Đại Lộ L, tầng 3 TTTM PALAZA, phường H, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm: 1996

Địa chỉ: Thôn L (nay là thôn S), xã T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt ông Lường Hữu H. Vắng mặt ông Bùi Văn T (lần 02 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 01 năm 2026 của Ngân hàng TMCP V (V1), bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ông Bùi Văn T vay vốn tại V1, theo 03 Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024 vay số tiền 251.000.000 đồng (hai trăm năm mươi mốt triệu đồng), thời hạn vay 84 tháng. Mục đích sử dụng vốn là mua xe ô tô tải THACO số loại FRONTIER TF480V 2S sản xuất năm 2024 mới 100% để phục vụ kinh doanh mua bán trái cây. Lãi suất cho vay trong hạn là 11,3%/năm, được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm. Lãi suất quá hạn đối với dư nợ gốc bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Các kỳ trả nợ gốc vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/9/2024. Số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 2.988.000 đồng, kỳ cuối phải trả hết số tiền nợ gốc còn lại. các kỳ trả lãi vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/9/2024.

Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025 số tiền vay là 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng). Thời hạn vay 60 tháng. Mục đích vay tiêu dùng. Lãi suất cho vay trong hạn là 22%/năm. Mức lãi suất cho vay trong hạn được cố định đến ngày 01/10/2025, sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện vào các ngày đầu quý hàng hàng năm. Các kỳ hạn trả nợ, bên vay trả nợ gốc cho bên ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/06/2025, số tiền vay phải trả mỗi kỳ là 1.450.000 đồng. Trả lãi định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng.

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười tám triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là 01 xe ô tô con nhãn hiệu THACO, mang biến số 50H - 500.01, số khung: RNHV25TDBRT091187, số máy: DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Bùi Văn T, theo Hợp đồng thế chấp số LN2407253305436/HĐTC ngày 03/08/2024.

Ông Bùi Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/11/2025, nên toàn bộ khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất quá hạn theo quy định trong hợp đồng.

V1 đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần nợ lãi chậm trả và khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười tám triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

Tính đến ngày 28/8/2026, ông Bùi Văn T đã trả cho V1 số tiền gốc 46.301.376 đồng; tiền lãi là 40.146.793 đồng. Tổng cộng là 86.448.169 đồng.

Tạm tính đến ngày 28/8/2026, ông Bùi Văn T còn nợ 02 khoản vay của V1 số tiền nợ gốc là 291.698.624 đồng, nợ lãi là 64.904.974 đồng. Tổng cộng là 356.603.598 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng đến nay ông T vẫn không thanh toán khoản vay nợ cho ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng V1 đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết buộc ông Bùi Văn T phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 28/8/2026 là 356.603.598 đồng và tiếp tục chịu lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi ông Bùi Văn T thực tế thanh toán hết nợ cho V1. Trường hợp ông Bùi Văn T không thực hiện được nghĩa vụ thì đề nghị Toà án cho phát mãi tài sản bảo đảm là xe ô tô con nhãn hiệu THACO, mang biến số 50H - 500.01, số khung: RNHV25TDBRT091187, số máy: DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Bùi Văn T, theo Hợp đồng thế chấp số LN2407253305436/HĐTC ngày 03/08/2024 để làm cơ sở cho thi hành án. Trường hợp tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vẫn không đủ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiếp tục kê biên, phát mại các tài sản của ông T để thu hồi nợ.

Bị đơn ông Bùi Văn T sau khi thụ lý vụ án đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không lấy được lời khai của ông T.

Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn xin rút một phần đơn khởi kiện về phần nợ lãi chậm trả và khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên như khởi kiện.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn quá trình giải quyết vụ án không đến để làm việc theo giấy báo của Toà án. Tại phiên toà nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 02 không có lý do.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu mà người đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần nợ lãi chậm trả và khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn.

- Về án phí: Bị đơn ông Bùi Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ngân hàng TMCP V là pháp nhân hoạt động hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ngân hàng đã ký kết hợp đồng tín dụng với ông Bùi Văn T để cho ông T vay tiền, mục đích sử dụng vốn vay là vay mua xe và tiêu dùng. Do ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T phải trả số tiền nợ gốc đã vay còn lại và tiền lãi, tiền phí phát sinh theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Ông T có hộ khẩu thường trú tại xã T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7

- Thanh Hóa theo khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ, thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng đối với ông Bùi Văn T nhưng ông T vẫn không có mặt để tham gia tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Bùi Văn T không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ nên Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã giao nộp để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp: Trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời trình bày của nguyên đơn và căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 463 Bộ luật dân sự vụ án có quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với phần nợ lãi chậm trả và khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười tám triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) nên đình chỉ yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp.

Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP V và ông Bùi Văn T đã được hai bên thống nhất, thỏa thuận, ký kết, hình thức, nội dung hợp đồng không vi phạm các điều cấm, không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Do vậy, Hợp đồng tín dụng là hợp pháp, là căn cứ pháp lý để các bên thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là giải ngân cho ông T vay các khoản lần lượt với số tiền gốc là 251.000.000 đồng và 87.000.000 đồng. Do ông Bùi Văn T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án là có căn cứ.

Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với khoản nợ gốc:

Căn cứ vào các hợp đồng tín dụng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Tại Hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024, ngân hàng đã giải ngân cho ông T vay số tiền là 251.000.000 đồng (hai trăm năm mươi mốt triệu đồng), thời hạn vay 84 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân. Các kỳ hạn trả nợ gốc định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/9/2024, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 2.988.000 đồng, riêng kỳ cuối trả hết số tiền gốc còn nợ. Tại Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025, số tiền vay 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng). Thời hạn vay 60 tháng. Các kỳ hạn trả nợ gốc, định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng. Kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/06/2025, số tiền gốc phải trả mỗi kỳ là 1.450.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã trả gốc đúng thời hạn được một thời gian, tuy nhiên từ ngày 15/11/2025, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các thoả thuận tại hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để đôn đốc thu hồi nợ nhưng ông T vẫn cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Tính đến ngày xét xử (ngày 28/8/2026) ông T mới trả được nợ gốc cho ngân hàng số tiền là 46.301376 đồng. Trong đó, Hợp đồng cho vay số LN2407253305436 trả số tiền là 41.832.000 đồng, Hợp đồng cho vay số LD2514100749 trả số tiền là 4.469.376 đồng. Như vậy, số tiền nợ gốc ông T còn phải trả cho ngân hàng là 291.698.624 đồng. Trong đó, Hợp đồng cho vay số LN2407253305436 là 209.168.000 đồng, Hợp đồng cho vay số LD2514100749 là 82.530.624 đồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về việc đề nghị Tòa án buộc ông Bùi Văn T phải trả khoản tiền nợ gốc đã vay còn lại là 291.698.624 đồng (hai trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi tám nghìn, sáu trăm hai mươi bốn đồng) là có cơ sở chấp nhận.

Đối với khoản tiền lãi:

Tại nội dung của hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024, lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 11,3%/năm, được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 84 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm. Các kỳ trả lãi vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/9/2024.

Tại nội dung của Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025 số tiền vay là 87.000.000 đồng (tám mươi bảy triệu đồng). Thời hạn vay 60 tháng. Lãi suất cho vay trong hạn là 22%/năm. Mức lãi suất cho vay trong hạn được cố định đến ngày 01/10/2025, sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện vào các ngày đầu quý hàng hàng năm. Trả lãi định kỳ 01 tháng/ lần vào ngày 15 hàng tháng.

Đối với cả hai hợp đồng lãi suất quá hạn đối với dư nợ gốc bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Quá trình vay nợ, ông T đã trả lãi đúng hạn được một thời gian, tuy nhiên đến ngày 15/11/2025 ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên toàn bộ số nợ bị chuyển sang nợ quá hạn. Vì vi phạm nghĩa vụ trả nợ như cam kết nên ngân hàng yêu cầu ông T phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ yêu cầu ông T phải trả lãi trong hạn và lãi quá hạn của khoản vay, rút yêu cầu đối với phần nợ lãi chậm trả.

Do đó, số tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày xét xử (ngày 28/8/2026) theo mức lãi suất mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng, ông T mới trả được 40.146.793 đồng tiền lãi trong hạn (trong đó: hợp đồng số LN2407253305436 đã trả được 32.542.409 đồng, hợp đồng số LD2514100749 đã trả được 7.604.384 đồng), lãi trong hạn còn phải trả là 3.009.780 đồng (trong đó: hợp đồng số LN2407253305436 còn phải trả 1.531.424 đồng, hợp đồng số LD2514100749 còn phải trả 1.478.356 đồng). Lãi quá hạn tính từ ngày 15/11/2025 đến ngày xét xử là 61.895.194 đồng (trong đó: hợp đồng số LN2407253305436 còn phải trả 38.630.716 đồng, hợp đồng số LD2514100749 còn phải trả 23.264.478 đồng). Tổng số tiền lãi ông T còn phải trả cho ngân hàng là: 64.904.974 đồng (sáu mươi tư triệu, chín trăm linh bốn nghìn, chín trăm bảy mươi tư đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.

Do ông Bùi Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận, ký kết nên V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T phải trả số tiền gốc còn lại và tiền lãi phát sinh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Bùi Văn T phải chịu trách nhiệm trả nợ cho V1 số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 28/8/2026 là 356.603.598 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm linh ba nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: tiền gốc là 291.698.624 đồng, tiền lãi là 64.904.974 đồng.

Kể từ ngày 29/8/2026, ông T còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo: Căn cứ vào lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của ông Bùi Văn T đối với khoản vay của ngân hàng các bên đã ký kết hợp đồng thế chấp số LN2407253305436/HĐTC ngày 03/8/2024. Theo nội dung của hợp đồng thế chấp, ông T đã thế chấp tài sản của mình là xe ô tô nhãn hiệu THACO, số loại FRONTIER TF480V, biển số đăng ký 50H - 500.01, số khung: RNHV25TDBRT091187, số máy: DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Bùi Văn T. Xét thấy, hợp đồng thế chấp được thỏa thuận, ký kết bởi những người có đủ năng lực, thẩm quyền. Do vậy, hợp đồng thế chấp tài sản là hợp pháp, là căn cứ pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng. Vì vậy, yêu cầu về việc được đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông T, là có căn cứ.

Ngày 29/7/2026, Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản ông T đã thế chấp với ngân hàng. Tuy nhiên, Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ được do vắng mặt bị đơn và không có tài sản để xem xét, thẩm định.

Số tiền phát mại tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho Ngân hàng nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp là ông Bùi Văn T, nếu thiếu ông T tiếp tục phải hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét tại chỗ, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của V1 được chấp nhận nên ông Bùi Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền phải trả nợ. Trả lại cho V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 96, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 210, Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 275, Điều 280, các Điều 317, 318, 319, 320, khoản 7 Điều 323, khoản 1 Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 1 Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ xét xử một phần đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn là ông Bùi Văn T phải trả lãi chậm trả và trả khoản vay tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ số tiền vay là 18.197.500 đồng (mười tám triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1 về việc yêu cầu bị đơn ông Bùi Văn T phải trả 02 khoản tiền vay tại hợp đồng cho vay số LN2407253305436 ngày 03/08/2024 và Hợp đồng cho vay số LD2514100749 ngày 21/05/2025.

Buộc bị đơn ông Bùi Văn T phải chịu trách nhiệm trả nợ cho V1 số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 28/8/2026 là 356.603.598 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm linh ba nghìn, năm trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: tiền gốc là 291.698.624 đồng, tiền lãi là 64.904.974 đồng.

Kể từ ngày 29/8/2026, ông Bùi Văn T còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi, phí phát sinh của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật và người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Bùi Văn T không trả nợ cho V1 thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng thế chấp số LN2407253305436/HĐTC ngày 03/8/2024 đã ký giữa bên thế chấp là ông Bùi Văn T và bên nhận thế chấp là V1. Tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu THACO, số loại FRONTIER TF480V, biển số đăng ký 50H - 500.01, số khung: RNHV25TDBRT091187, số máy: DAM16KR241000104YLF thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Bùi Văn T. Số tiền phát mại các tài sản bảo đảm thu được sau khi trả nợ cho V1 nếu còn thừa sẽ trả lại cho bên thế chấp là ông T nếu thiếu ông T tiếp tục phải hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với V1.

3. Về án phí: Buộc ông Bùi Văn T, phải nộp 17.830.180 đồng (mười bảy triệu, tám trăm ba mươi nghìn, một trăm tám mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Trả lại cho V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.284.000 đồng (tám triệu, hai trăm tám mươi tư nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002107 ngày 20/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36 và 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ