- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2026/DS - ST Ngày: 17 - 4- 2026 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triều Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Ngọc
Ông Vũ Văn Thăng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 428/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2026/QĐXX-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2026/QĐST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2026, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam. Trụ sở: Tầng 1, tầng 2 tòa nhà Sailing Tower, số 111 Pasteur, phường Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc Vũ - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thu Hà - Chức vụ: Giám đốc trung tâm xử lý nợ hỗn hợp Miền Nam.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông (bà) Trần Hoàng Minh, Nguyễn Kim Ngân, Hồ Thị Nhâm, Trần Văn Thuật. Địa chỉ: 176 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, thành phố Hồ Chí Minh. Giấy ủy quyền số 037792.26 ngày 03/02/2026)
- Bị đơn: Ông Ngô Văn Vũ, sinh năm 1976. Địa chỉ: 36 Lê Văn Vận, tổ 28, khu phố 8, phường Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
(anh Thuật có mặt, ông Vũ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
1. Quá trình ký kết hợp đồng: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – PGD Tân Mai ký với là Ông Ngô Văn Vũ Hợp đồng tín dụng số: 104786017.24 ngày 18/5/2024 với nội dung: VIB cho là Ông Ngô Văn Vũ vay số tiền 475,000,000 đồng; Mục đích vay vốn: Mua xe ô tô tiêu dùng xe KIA SPORTAGE 2.0G PREMIUM, mới 100%; Thời hạn vay: 96 tháng. Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 8.00%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 3.9%/năm. Hoàn trả gốc: hàng tháng vào ngày 18, từ ngày 18/6/2024 đến ngày 18/4/2032 với số tiền là 6,635,000 đồng, dư nợ gốc còn lại trả hết vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi: hàng tháng vào ngày 18; Trả phí: theo quy định của VIB từng thời kỳ. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
Ngày 18/5/2024, VIB đã giải ngân cho Ông Ngô Văn Vũ với số tiền 637.000.000 đồng, theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ (KUNN) số 104972238.24 theo đúng yêu cầu của Ông Ngô Văn Vũ và phù hợp với quy định tại HĐTD.
Căn cứ Đề nghị phát hành thẻ đã ký ngày 07/06/2024, VIB đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Ngô Văn Vũ; Hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng; Lãi suất, phí: theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.
2. Biện pháp bảo đảm tiền vay:
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: 01 xe ô tô nhãn hiệu: KIA, số loại: SPORTAGE, biển kiểm soát: 60A-571.15, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 000051 do Công an thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 16/05/2024 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0064190.24 ngày 18/05/2024.Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
3. Quá trình thực hiện hợp đồng:
Trong thời gian thực hiện HĐTD, Ông Ngô Văn Vũ đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Đến thời điểm 01/12/2025, Ông Ngô Văn Vũ chỉ trả được 39,810,000 đồng tiền gốc và tiền lãi là 25,021,919 đồng. Mặc dù VIB đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ, nhưng Ông Ngô Văn Vũ vẫn chây ỳ, không trả nợ. Khoản nợ của Ông Ngô Văn Vũ đã chuyển sang quá hạn từ ngày 05/10/2024.
Tạm tính đến ngày 17/4/2026, Ông Ngô Văn Vũ còn nợ Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam số tiền là: 847,957,857 đồng (Bằng chữ: Tám trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi bảy đồng), bao gồm: Đơn vị: Đồng
Nợ gốc
Nợ lãi
Nợ
lãi
Chậm
Tổng HĐTD/Thẻ
trong
quá hạn
trả tín dụng
hạn
lãi/phí 104786017.24 597,190,000 24,121,753 105,425,305 3,350,611 730,087,669 Thẻ tín dụng 58,891,870
28,140,705 30,837,613 117,870,188 Tổng
656,081,870 24,121,753 133,566,010 34,188,224 847,957,857 Nay ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Nai xem xét, giải quyết những yêu cầu sau:
Yêu cầu ông Ngô văn Vũ thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng số 104786017.24 ngày 18/5/2024 và Đề nghị phát hành thẻ đã ký ngày 07/06/2024 và theo Hợp đồng thế chấp số 0064190.24 ngày 18/5/2024, cụ thể:
Buộc Ông Ngô Văn Vũ phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam toàn bộ số tiền còn chưa thanh toán theo quy định tại HĐTD và HĐTC (“khoản nợ”). Dư nợ tạm tính đến ngày 17/4/2026 theo Hợp đồng tín dụng số 104786017.24 ngày 18/5/2024 và Đề nghị phát hành thẻ đã ký ngày 07/06/2024 là: 847,957,857 đồng (Bằng chữ: Tám trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi bảy đồng), bao gồm: Đơn vị: Đồng
Nợ gốc
Nợ lãi
Nợ
lãi
Chậm
Tổng HĐTD/Thẻ
trong
quá hạn
trả tín dụng
hạn
lãi/phí 104786017.24 597,190,000 24,121,753 105,425,305 3,350,611 730,087,669 Thẻ tín dụng 58,891,870
28,140,705 30,837,613 117,870,188 Tổng
656,081,870 24,121,753 133,566,010 34,188,224 847,957,857
Ông Ngô Văn Vũ còn tiếp tục trả lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả theo mức lãi suất quy đinh tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 18/4/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản tiền phải trả cho VIb theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp số 0064190.24 ngày 18/5/2024.
Trường hợp Ông Ngô Văn Vũ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho VIB, Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo các phương thức và nội dung quy định tại Hợp đồng thế chấp số 0064190.24 ngày 18/5/2024 hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: "01 xe ô tô nhãn hiệu: KIA, số loại: SPORTAGE, biển kiểm soát: 60A-571.15, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 000051 do Công an thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 16/05/2024 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0064190.24 ngày 18/05/2024” để thu hồi nợ vay cho VIB.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả khoản nợ của ông Ngô Văn Vũ với VIB. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho VIB.
* Bị đơn ông Ngô Văn Vũ mặc dù đã được Tòa án thông báo hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn.
* Các tài liệu, chứng cứ thu thập được:
- Nguyên đơn giao nộp: Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án: - Hợp đồng tín dụng số 104786017.24 ngày 18/05/2024:Đề nghị phát hành thẻ đã ký ngày 07/06/2024; Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 104972238.24 ký ngày 18/05/2024, Hợp đồng thế chấp số 0064190.24 ngày 18/05/2024;Đơn đăng ký giao dịch bảo đảm (bản sao); Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 000051 do Công an thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cấp 16/05/2024, Giấy ủy quyền về việc tham gia tố tụng (bản sao); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (bản sao); CMND/CCCD của Người bị kiện Ông Ngô Văn Vũ, Các Thông báo, Quyết định, Biên bản làm việc, Điều lệ ngân hàng; bản tự khai, bản tính lãi.
- Bị đơn giao nộp: Không.
- Tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập gồm: Biên bản xác minh tại Công an phường Long Khánh.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được do bị đơn ông Ngô Văn Vũ vắng mặt không có lý do, đại diện nguyên đơn có yêu cầu đưa vụ án ra xét xử.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Ngô Văn Vũ trả khoản nợ như trên là có cơ sở nên chấp nhận và tiếp tục tính lãi chậm trả theo lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ, xử lý tài sản thế chấp theo quy định.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, các chi phí tố tụng được giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án; quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Ngô Văn Vũ có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc, tiền lãi và xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận các bên tại hợp đồng được ký kết nên Ngân hàng là nguyên đơn, ông Ngô Văn Vũ là bị đơn; ông Vũ có nơi cư trú tại 36 Lê Văn Vận, tổ 28, khu phố 8, phường Long Khánh, tỉnh Đồng Nai nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục ủy quyền: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam có văn bản ủy quyền cho bà Trần Thị Thu Hà làm đại diện, bà Hà ủy quyền lại cho ông (bà) Trần Văn Thuật đại diện cho Ngân hàng. Xét việc ủy quyền trên của là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định tại Điều 87 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
Về thông tin địa chỉ của người bị kiện: Theo thông tin địa chỉ của bị đơn ông Ngô Văn Vũ được ghi trên Hợp đồng tín dụng thì ông Vũ có địa chỉ tại tổ 36 Lê Văn Vận, tổ 28, khu phố 2, phường Xuân Thanh, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Long Khánh, tỉnh Đồng Nai); tuy nhiên tại kết quả xác minh do Công an phường Long Khánh cung cấp thì ông Ngô Văn Vũ, sinh năm 1976 có hộ khầu thường trú tại địa phương, tuy nhiên đã bán nhà đi khởi địa phương từ năm 2022.
Như vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Ngân hàng đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ của người bị kiện. Nguyên đơn là ông Ngô Văn Vũ thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, do đó Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Về thủ tục tố tụng: bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng không có mặt. Vì vậy, căn cứ theo Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số: 104786017.24 ngày 18/5/2024 và Đề nghị phát hành thẻ đã ký ngày 07/06/2024.
Xét thấy, Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng thẻ tín dụng với bị đơn được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện; các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; nội dung và hình thức hợp đồng không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn đã vi phạm nội dung được thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết; vi phạm quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định nhưng cho đến nay bị đơn cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì về việc bản thân đã trả tiền cho ngân hàng đến thời điểm hiện nay.
Như vậy, xác lập giao dịch giữa hai bên là có thật phù hợp với quy định pháp luật, ông Vũ sử dụng số tiền vay nhưng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và nợ lãi cho Ngân hàng, đã vi phạm điều khoản thanh toán theo thỏa thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông Vũ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Vũ thế chấp cho ngân hàng xe ô tô 01 xe ô tô nhãn hiệu: KIA, số loại: SPORTAGE, biển kiểm soát: 60A-571.15, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 000051 do Công an thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 16/05/2024. Tài sản đảm bảo được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0064190.24 ngày 18/5/2024; Đăng ký giao dịch đảm bảo tài sản thế chấp tại trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Năng.
Hợp đồng thế chấp tài sản và tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch đảm bào tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật trong quá trình ký kết nên có giá trị thực hiện.
Về án phí: Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam nên ông Ngô Văn Vũ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai: Về nội dung vụ án thì quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 85; Điều 87; Điều 91; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 180; Điều 227, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 464, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB) đối với ông Ngô Văn Vũ về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Ngô Văn vũ phải trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền số tiền còn nợ tổng là: 847,957,857 đồng (Bằng chữ: Tám trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi bảy đồng) tạm tính đến ngày 17/4/2026, bao gồm:
Đơn vị: Đồng
Nợ gốc
Nợ lãi
Nợ lãi
Chậm
Tổng HĐTD/Thẻ
trong
quá hạn
trả tín dụng
hạn
lãi/phí 104786017.24 597,190,000 24,121,753 105,425,305 3,350,611 730,087,669 Thẻ tín dụng
58,891,870
28,140,705 30,837,613 117,870,188
Tổng
656,081,870 24,121,753 133,566,010 34,188,224 847,957,857
Kể từ ngày 18/4/2026, ông Vũ chưa thi hành khoản tiền nêu trên còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 104786017.24 ngày 18/5/2024 và Đề nghị phát hành thẻ đã ký ngày 07/06/2024 đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng đã ký kết, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Tài sản để đảm bảo thi hành án là: 01 xe ô tô nhãn hiệu: KIA, số loại: SPORTAGE, biển kiểm soát: 60A-571.15, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 60 000051 do Công an thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 16/05/2024. Tài sản đảm bảo được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0064190.24 ngày 18/5/2024.
2. Về án phí: Ông Ngô Văn Vũ phải nộp 37.438.736 đồng (ba mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn, bảy trăm ba sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp 16.798.620 đồng (mười sáu triệu, bảy trăm chín mươi tám nghìn, sáu trăm hai mươi đồng) theo biên lai thu tiền số 0008526 ngày 18/11/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4 - Đồng Nai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Vũ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán-Chủ Tọa phiên tòa
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND. tỉnh Đồng Nai; - VKSND Khu vực 4 - Đồng Nai; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Triều Châu |