- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng A T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2025/HSST Ngày 21-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Thiện
Ông Lê Thiện Đào Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ý T a án nh n d n thành phố Sa Đ c, t nh Đ ng Tháp.
- Đ i diện Viện ki m sát nhân dân thành ph Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở T a án nh n d n thành phố Sa Đ c x t xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ lý số 40/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Anh T, sinh ngày: 28/10/1999 tại t nh Đ ng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số B, đường P, hóm S, phường T, thành phố S, t nh Đ ng ThápQuốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn A T1sinh năm 1978 và con bà Nguyễn Thị Ngọc L năm 1979; A, chị, em ruột: 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của T a án nh n d n huyện Cao Lãnh, t nh Đ ng Tháp xử phạt Nguyễn H AT06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 18/02/2024 (chưa được xóa án tích); Tạm giữ: 22/8/2024; Tạm giam: 25/8/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại ph n trại tạm giam hu vực thành phố S, t nh Đ ng Tháp(có mặt tại phiên t a).
- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu T1 năm 1975; Nơi cư trú: Số A, ấp R, xã T,
huyện V, t nh Long An(Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hoàng  năm 1970; Nơi cư trú: Số D, Khu phố A, Phường G, thành phố B, t nh Bến Tre(Vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ năm 1981; Nơi cư trú: Tổ B, Ấp D, xã X, huyện X, t nh Đ ng Nai(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hoảng 17 giờ ngày 22/8/2024, ông Nguyễn H1 T2dựng xe mô tô biển số 62M1-4097 trên v a hè Khu d n cư “LalaLan” (đối diện hộ 63), đường K, xã T, thành phố S, Đ móc xe bên trái có treo một bịch nylon màu h ng, bên trong đựng một điện thoại di động hiệu Oppo A53 màu xanh đen, r i đi đến giàn giáo cách nơi đậu xe hoảng 10m để leo lên giàn làm việc. Ông Lê Hoàng Â1 gần xe của ông T2(Khoảng 1m), c n ông Nguyễn Văn Đ1 cách xe ông T2 hoảng 6m. Trước hi lên giàn giáo làm thì ông Â2 ông T2đem điện thoại theo, ông T2nói với ông “Mày sẵn đứng đó coi dùm tao luôn”, ông T2trèo lên giàn giáo làm việc. Lúc này, Nguyễn Hoàng A Tđiều hiển xe mô tô biển số 66L1-887.75 (thuê của ông Nguyễn Thanh V ngang phát hiện xe mô tô của ông T2có treo bịch đựng điện thoại của ông T2nên chạy xe lên v a hè đậu, đậu xe gần xe ông T2 r i tắt máy xe (Tc n ng i trên xe. Sau đó T3 vờ hỏi ông “chỗ nào bán ván đóng hộp để đổ bê tông”, ông Â3 người ch về hướng Ngã ba UBND xã Tđể ch đường, vừa bấm điện thoại, thấy ông Â4 chú ý xe ông T2Tth tay lấy túi nylong đựng điện thoại của ông T2r i điều hiển chạy được một đoạn thì bị ông Đ2 hiện hô quán và bị ông Đ3 lại bốp thắng (phanh) xe, giằng co, ông Â5 giằng co, nắm đuôi xe, đạp xe ngã xống đường. Lúc này ông Â6 đến nắm cổ áo của T4 về lề đường, T5 bọc nylong chứa điện thoại nói trả lại điện thoại cho ông Â7 ông Â4 nhận mà tiếp tục nắm cổ áo T thì T6 trong người c y roi điện chích trúng tay ông Â8 Âbuông tay ra, T7 dựng xe mô tô lên định tẩu thoát, nhưng chìa hóa xe của T8 bị ông Â9 hỏi ổ cấm xe, thấy ông Â6 vào trong công trình lấy c y ch o giàn giáo x y dựng ra nên T9 lại điện thoại gần xe, r i bỏ chạy, vừa chạy vừa bấm roi điện, chạy được một đoạn thì bị bắt giữ.
Tại bản ết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐGTS, ngày 29/8/2024 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, Đ ng T luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, màu xanh đen đã qua sử dụng, có trị giá là 1.133.333 đ ng; 02 phôi sim điện thoại di động có trị giá 50.000 đ ng, tổng trị giá tài sản là 1.183.333 đ ng.
Tại ết luận giám định số 1578/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của Ph ng KCông an t nh Đ ết luận 01 vật hình hộp chữ nhật, có vỏ nhựa màu đen, một đầu có gắn hai thanh im loại màu trắng, trên th n có d ng chữ “980000K VOTL 928 TYPE” là công cụ hỗ trợ.
Tại ết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 1521/KLTTCT-TTPYĐT ngày 11/12/2024 của Trung t m pháp y t nh Đ với tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Hoàng Â10 01%. Tổn thương do vật tày g y ra.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng Anh T10 nhận trước đó đã cùng một người tên Pvà H2 ( hông xác định được họ tên địa ch ) thực hiện 01 vụ Cướp giật tài sản tại đường ĐH69 thuộc ấp T, xã T, huyện L, t nh Đ ng Thápvào ngày 02/8/2024. Tvà Hnhỏ thực hiện 01 vụ “Trộm cắp tài sản” tại trước hộ số A, đường C, hóm B, phường A, thành phố C, t nh Đ ng Thápvào ngày 18/8/2024. X t thấy vụ việc xảy ra trên địa bàn huyện L và thành phố C, t nh Đ ng Thápnên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã chuyển ngu n tin trên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L làm rõ xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSTPSĐ ngày 12/3/2025của Viện iểm sát nh n d n thành phố Sa Đ c đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ hoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên t a hôm nay, đại diện Viện iểm sát nh n d n thành phố Sa Đ c giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đ ng x t xử:
Căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A T về tội “Trộm cắp tài sản”, với mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm d n sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tiếp tục quản lý để bảo đảm thi hành án 01 điện thoại di động Oppo màu xanh, có gắn ốp lưng trong suốt dán các d ng chữ nhiều màu (Đã qua sử dụng, chưa iểm tra chất lượng) được để trong một túi niêm phong, mã số NS3 2126127, có chữ ý ghi họ và tên Nguyễn Hoàng A Tvà tiền Việt Nam 34.000 đ ng thu giữ của bị cáo T
- Ý iến của bị cáo Nguyễn Hoàng A T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo hông tranh luận. Về hình phạt, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ý iến của bị hại Nguyễn Hữu T2vắng mặt nhưng trong giai đoạn điều tra có ý iến: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị hại hông có yêu cầu bị cáo b i thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, xin Hội đ ng x t xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng x t xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình hởi tố, điều tra, truy tố. Trong quá trình điều tra và tại phiên t a, người tham gia tố tụng hông có ý iến, hiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong h sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
. Về tội danh: Trên cơ sở tài liệu chứng cứ trong h sơ vụ án, lời hai của bị cáo Nguyễn Hoàng A Tvà lời hai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng Â11 tại phiên t a ngày 23/4/2025 và lời hai của bị cáo tại phiên t a hôm nay ngày 21/5/2025, cho thấy: Bị cáo Nguyễn Hoàng A Tcó tiền án, chưa được xóa án tích về tội Trộm cắp tài sản nhưng vào hoảng 17 giờ ngày 22/8/2024 tại trước v a hè Khu d n cư “LalaLan” (đối diện hộ 63), đường K, xã T, thành phố S, Đ ng Tháp bị cáo hi thấy điện thoại trong bịt nylong treo trên xe mô tô của ông T2đậu trên v a hè, bị cáo có ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại, nên hi thấy ông Â12 đứng cạnh đầu xe mô tô, thì bị cáo điều hiển xe mô tô đậu sát xe của ông T2giả vờ hỏi đường ông Â13 ông Â14 người ch đường cho bị cáo, thì bị cáo nhanh chóng lấy bịt nylong có chứa điện thoại treo trên xe r i nhanh chống điều hiển xe tẩu thoát, giá trị tài sản theo định giá của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, màu xanh đen đã qua sử dụng và 02 phôi sim điện thoại di động là 1.183.333 đ ng và đ ng thời sau hi bị phát hiện, bị cáo đã có hành vi dùng roi điện hành hung ông Â15 mục đích tẩu thoát.
Hành vi của bị cáo có dấu hiệu cấu thành tội Cướp giật tài sản; do đó Hội đ ng x t xử đã trả h sơ cho Viện iểm sát để điều tra truy tố bị cáo về tội Cướp giật tài sản. Tuy nhiên, Viện iểm sát nh n d n thành phố Sa Đ c giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A Tvề tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ hoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hội đ ng x t xử nhận thấy, tội “Trộm cắp tài sản” có hung hình phạt nhẹ hơn tội “Cướp giật tài sản”; do đó, theo nguyên tắt có lợi cho bị cáo, Hội đ ng x t xử x t xử bị cáo theo tội danh mà Cáo trạng Viện iểm sát truy tố đối với bị cáo.
Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người hác trị giá từ 2.000.000 đ ng đến dưới 50.000.000 đ ng..., thì bị phạt cải tạo hông giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a)...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đ y, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) ...
đ) Hành hung để tẩu thoát.”
. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công d n được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi x m phạm đều sẽ bị xử lý. Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động, làm ăn ch n chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản th n, chăm lo cho gia đình, làm tấm gương tốt để con cái noi theo; nhưng bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, để chiến đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích vụ lợi cá nh n. Thủ đoạn thực hiện tội phạm táo bạo, liều lĩnh, thực hiện tội phạm ngay ban ngày. Do đó, x t thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo hỏi xã hội một thời gian để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành công d n tốt, có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng răn đe, ph ng ngừa chung trong xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo T thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải. Đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem x t giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm d n sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, hông yêu cầu bị cáo b i thường gì nên hông xem x t giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Oppo màu xanh, có gắn ốp lưng trong suốt dán các d ng chữ nhiều màu (Đã qua sử dụng, chưa iểm tra chất lượng) được để trong một túi niêm phong, mã số NS3 2126127, có chữ ý ghi họ và tên Nguyễn Hoàng A Tvà tiền Việt Nam 34.000 đ ng thu giữ của Nguyễn Hoàng A Tx t thấy cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
. X t đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên t a hôm nay là có căn cứ nên chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng A T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Đối với ông Nguyễn Thanh V1 bị cáo T11 xe mô tô biển số 66L1-807.75 nhưng anh V2 biết Tsử dụng xe của anh để thực hiện hành vi phạm tội nên hông xem x t xử lý là phù hợp.
Đối với việc bị cáo T12 thương tích cho ông Lê Hoàng Â16, ông Â4 yêu cầu xử lý hình sự nên hông xem x t xử lý Tài về tội Cố ý g y thương tích là phù hợp.
Ngoài ra, bị cáo T13 có hành vi "Tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ" theo Điều 306 Bộ luật Hình sự, nhưng do bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc ết án về hành vi này nên chưa đủ căn cứ xem x t xử lý hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng A T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng A T 02 năm 06 tháng tù (Hai năm sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động Oppo màu xanh, có gắn ốp lưng trong suốt dán các d ng chữ nhiều màu (Đã qua sử dụng, chưa iểm tra chất lượng) được để trong một túi niêm phong, mã số NS3 2126127, có chữ ý ghi họ và tên Nguyễn Hoàng A Tvà tiền Việt Nam 34.000 đ ng thu giữ của bị cáo T14
(Hiện Chi cục thi hành án d n sự thành phố Sđang quản lý, theo biên bản giao, nhận nhận đ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/5/2025).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí T a án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng A T phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên t a có quyền háng cáo lên T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc ể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND T nh; - VKSND T nh; - VKSND TP Sa Đ c; - Ph ng h sơ nghiệp vụ Công an T nh; - Chi cục THADS TP Sa Đ c; - Bị cáo, bị hại, người có QL,NVLQ; - Lưu VT, h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuấn Em |