vanban.org

Bản án 44/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Kh 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo bản án số 28/2025/HSST ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. TAND Thành phố Hà Nội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Kh bị truy tố và xét xử về tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Kh 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo bản án số 28/2025/HSST ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS - ST
Ngày 29 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiều

Ông Bùi Văn Độ

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8

- Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với:

* Bị cáo: Đỗ Văn Kh, sinh năm 1989 tại Hà Nội; Nơi ĐKTT và cư trú: Cụm 1- Hồng H, xã Ô D, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Đức H và bà Nguyễn Thị L; Có vợ và 02 con (Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/8/2006 bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng án tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng thử thách về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 94/2006/HSST), ngày 16/4/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 11/2010/HSST), ngày 03/3/2011 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có (Bản án 126/2011/HSST, bị cáo đã chấp hành xong các bản án và được xóa án tích theo quy định), ngày 19/11/2021 bị Công an huyện Đan Phượng ra Quyết định xử phạt về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác và Sử dụng công cụ hỗ trợ không có giấy phép (Đã nộp phạt ngày 24/11/2021), ngày 23/4/2025 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Bản án số 28/2025/HS-ST); danh chỉ bản số 075 lập ngày 07/02/2025 tại Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2025 đến nay; có mặt.

* Bị hại: Anh Phạm Như H1, sinh năm 1990, địa chỉ: Cụm 3- Hồng H, xã Ô D, thành phố Hà Nội; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hoàng Thị Tuyết M, sinh năm 1999, địa chỉ: Cụm 3- Hồng H, xã Ô D, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991; địa chỉ: Cụm 1 - Hồng H, xã Ô D, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Trần Đức H2, sinh năm 1998; địa chỉ: Cụm 1 - Liên Tr, xã Ô D, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn Thượng Tr - Hồng H, xã Ô D, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Anh Đông Văn T, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn Thượng Tr - Hồng H xã Ô D, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn Thượng Trì - Hồng Hà, xã Ô Diên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 4/2023, do cần tiền nên vợ chồng anh Phạm Như H1 và chị Hoàng Thị Tuyết M vay của Đỗ Văn Kh số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 2.000 đồng/1 triệu/1 ngày (Tương đương 72%/năm), không xác định thời hạn, hàng tháng anh H1 phải trả lãi cho Kh. Anh H1 trả lãi được một số tháng, đến tháng 7 năm 2023, anh H1 còn nợ Kh 2.000.000 đồng. Tháng 8 năm 2023, anh H1 lại tiếp tục vay Kh 4.500.000 đồng gộp với số tiền còn nợ 6.500.000 đồng, lãi suất 2000 đồng/1 triệu/1 ngày (Tương đương 72%/năm), hàng tháng anh H1 phải trả cho Kh. Do khó khăn nên đến tháng 12/2023, anh H1 xin Kh không tính lãi khoản vay, Kh đồng ý. Từ đầu năm 2024 đến tháng 5/2024, Kh nhiều lần yêu cầu anh H1 trả số tiền trên nhưng H1 chưa trả.

Vào hồi 19 giờ ngày 08/5/2024, Đỗ Văn Kh cùng nhóm bạn gồm: Trần Đức H2, Đông Văn T, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thị H3 (Vợ của T3) ăn tại quán “NH2 quê mình” thuộc Hồng Hà, xã Ô Diên, thành phố Hà Nội và đến quán CT Beer ở Hạ Mỗ, xã Ô Diên, Hà Nội nghe nhạc. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, cả nhóm cùng đi taxi (Không rõ hãng xe, biển số xe) quay lại quán “NH2 quê mình” ở Hồng Hà, xã Ô Diên, Hà Nội để nhóm bạn của Kh lấy xe máy về. Khi đi qua nhà anh Phạm Như H1 ở số nhà 50, đường 20 mét thuộc Cụm 3 Hồng Hà, xã Ô Diên, thành phố Hà Nôi, do muốn có tiền đi hát nên Kh nảy sinh ý định vào tìm anh H1 để đòi số tiền còn nợ. Kh nói với người lái taxi dừng trước cửa nhà anh H1, vị trí hướng về phía Trạm y tế xã Hồng Hà (Cách cổng 02 mét). Một mình Kh xuống xe đi vào sân nhà anh H1, thấy có ánh đèn sáng từ bên trong, Kh đứng trước sân gọi: “Anh H1 ơi, anh H1 ơi”, thấy trước mặt có chiếc xe bò để ở góc sân nên Kh dùng chân đá vào xe làm 01 chậu cây đang để trên thành xe rơi xuống bị vỡ. Anh H1 đang ngồi ở phòng khách, thấy tiếng động đứng dậy bật đèn, mở cửa, thấy Kh, H1 nói “Có chuyện gì thì vào trong nhà ngồi nói chuyện”, Kh vào trong đứng đối diện với anh H1 và nói “Còn mấy triệu anh trả em nốt đi”. Do không có tiền và bị đòi lúc đêm, gây ồn ào nên anh H1 trả lời “Hiện tao chưa có, bao giờ có tao trả”. Nghĩ anh H1 có tiền nhưng cố tình không trả và đã nhiều lần trốn tránh việc trả nợ nên Kh dùng tay phải đấm liên tiếp 03 phát vào mặt anh H1 để yêu cầu anh H1 phải trả tiền số tiền 6.500.000 đồng cho Kh, làm anh H1 bị sưng phù nề ở phần trán bên phải (Kích thước 4x3cm). Bị đánh bất ngờ anh H1 không kịp chống trả lại chỉ nói “Sao hôm nay em lại hành xử như thế” thì Kh tiếp tục lao vào đánh H1. Lúc này, Trần Đức H2, Nguyễn Thanh T3 và Đông Văn T đã xuống xe đang đứng ở ngoài, nghe thấy có tiếng va chạm nên chạy vào trong thấy Kh đang xông vào đánh anh H1, H2 và T ôm Kh, T3 ôm anh H1 để can ngăn khiến anh H1 ngã ra ghế dài trong phòng khách. Thấy tiếng ồn bên ngoài nên chị Hoàng Thị Tuyết M (Vợ của anh H1) từ trong buồng chạy ra, phát hiện anh H1 bị T3 ôm nên hoảng sợ chạy ra ngoài hô hoán. Thấy vậy, Kh dừng lại cùng cả nhóm đi sang quán café “Đan” (Cách nhà anh H1 100 mét) uống nước. Sau 10-15 phút, biết Kh đang ngồi ở quán nước cạnh nhà nên anh H1 đến ngồi xuống đối diện Kh và chỉ tay về phía Kh “Sao nửa đêm mày đến phá nhà tao”. Bực tức Kh dùng hai tay nâng chiếc bàn bằng kim loại trước mặt lao về phía anh H1, anh H1 dùng tay đỡ, mọi người can ngăn nên Kh và nhóm bạn rời khỏi quán nước. Hậu quả: Anh H1 bị sưng nề ở phần trái bên phải (Kích thước 4x3 cm, ngoài ra không có thương tích nào khác).

Kết quả khám hiện trường xác định tại số nhà 50, đường 20 mét thuộc Cụm 3 - Hồng Hà, xã Ô Diên, thành phố Hà Nội của anh Phạm Như H1 ghi nhận 01 chậu hoa bằng nhựa (Chứa đất) bị vỡ nằm trên mặt chiếc xe bò cải tiến; 01 ô cửa kính bị nứt, vỡ kích thước (38x14)cm; 01 chiếc tivi màu đen, nhãn hiệu Sony Model KLV-32BX300, kích thước 79x48x8,5cm bị nứt, vỡ nhựa vị trí chính giữa vỏ mặt sau tivi và 2 góc phía trên của mặt sau. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ chiếc tivi để điều tra làm rõ.

Tại Bản kết luận định giá T sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Hội đồng định giá T sản thường xuyên trong tố tụng Hình sự huyện Đan Phượng, kết luận: “01 chiếc tivi màu đen, nhãn hiệu Sony Bravia, Model No.KLV-32BX300, LCD COLOUR TV, thay mới phần vỏ nhựa phía sau trị giá 650.000 đồng; 01 chiếc chậu nhựa trị giá 20.000 đồng; 01 ô cửa kính kích thước 38x14cm trị giá 120.000 đồng. Tổng thiệt hại là 790.000 đồng”.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSKV8 ngày 17/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Văn Kh về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đỗ Văn Kh trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên. Nguyên nhân dẫn đến bị cáo có hành vi trên là do vợ chồng anh H1 nợ tiền bị cáo, trốn không gặp và không nghe điện thoại của bị cáo. Bị cáo đi uống nước, nghe nhạc cùng nhóm bạn hết tiền nên trên đường về bị cáo đã đến nhà anh H1 đòi tiền nhưng bị anh H1 nói “lúc nào có thì trả”, do bực tức nên bị cáo lao vào đánh anh H1 bắt anh H1 phải trả số tiền 6.500.000 đồng. Giữa bị cáo và anh T3, chị H2, anh T, anh H2 không có sự bàn bạc trao đổi gì liên quan đến việc vợ chồng anh H1 nợ tiền bị cáo và việc bị cáo đến đòi tiền vợ chồng anh H1. Khi có người can ngăn thì bị cáo ra về. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Anh Phạm Như H1 khai: Kh đến nhà anh đòi tiền vào ban đêm, anh không trả và đã nói nhau với Kh. Sau đó, Kh lao vào đánh anh thì được nhóm bạn của Kh đến can ngăn. Anh bị thương tích nhẹ, tự nguyện từ chối giám định. Anh xác định T sản bị thiệt hại là cH2 cây có giá trị 20.000 đồng ngoài ra không bị thiệt hại T sản gì khác. Anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Kh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8- Hà Nội tại phiên tòa trình bày bản luận tội, giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn Kh về tội “Cướp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn Kh từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tháng tù về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo bản án số 28/2025/HSST ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai bản án từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn Kh khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng và các T liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do muốn có tiền để mời bạn đi hát nên khoảng 23 giờ ngày 08/5/2024, Đỗ Văn Kh vào nhà anh Phạm Như H1 ở số nhà 50, đường 20 mét thuộc cụm 3 - Hồng Hà, xã Ô Diên, thành phố Hà Nội để đòi nợ số tiền 6.500.000 đồng. Thấy anh H1 khất nợ không trả, Kh đã dùng tay đấm liên tiếp 03 phát vào mặt anh H1 để buộc H1 trả tiền.

Tại thời điểm phạm tội Kh có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Kh dùng tay đánh anh Phạm Như H1 nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 6.500.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu T sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét tội trộm cắp tài sản, chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, mua bán tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và sử dụng công cụ hỗ trợ không có giấy phép nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học thay đổi bản thân mà có hành vi phạm tội nêu trên nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do anh H1 vay tiền của bị cáo chưa trả hết nhưng trốn tránh trả nợ bị cáo; anh H1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh H1, chị M xác định chiếc tivi bị hỏng và cửa kính bị vỡ từ trước khi xảy ra vụ án này; tài sản thiệt hại trong vụ án này là chậu trồng hoa trị giá 20.000 đồng; anh H1 bị thương nhẹ. Anh H1, chị M không yêu cầu Kh bồi thường về dân sự, Kh không yêu cầu anh H1 trả số tiền 6.500.000 đồng là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Kh dùng bàn sắt trong quán của anh Q để giơ lên hất về phía anh H1, không gây hư hỏng. Anh Q không yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc tivi màu đen, nhãn hiệu Sony Model KLV - 32BX300, kích thước 79x48x8,5cm đã được trả lại cho anh Phạm Như H1 trong quá trình điều tra nên không phải xử lý vật chứng.

Các vấn đề khác:

Ngày 15/5/2024, anh Phạm Như H1 từ chối giám định thương tích và có đơn đề nghị rút đơn yêu cầu khởi tố đối với Đỗ Văn Kh về hành vi cố ý gây thương tích xảy ra ngày 08/5/2024.

Quá trình điều tra xác định, Kh và Trần Đức H2, Nguyễn Thanh T3, Đông Văn T và Nguyễn Thị H2 đi cùng nhau nhưng không có sự bàn bạc thỏa thuận về việc đòi tiền của anh H1. Đỗ Văn Kh vào trước và đánh anh H1 để đòi tiền, T, Đức H2 ôm Kh, T3 ôm H1 là để can ngăn nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với T3, T, Đức H2 là có căn cứ.

Đối với hành vi Kh dùng bàn sắt hất về phía trước mặt H1 tại quán Café Đan, sau khi sự việc xảy ra, không có mục đích đòi tiền, H1 không có thương tích, từ chối giám định nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Kh 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo bản án số 28/2025/HSST ngày 23/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai bản án là 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2025.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đỗ Văn Kh phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ