vanban.org

Bản án 44/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 17/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản” Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng N 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày bị cáo tạm gi , tạm giam 28/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hoàng N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN GIANG
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HSST
Ngày: 17/4/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Miện.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Điệp

Bà Hoàng Thị Thắm

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thảo - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện VKSND huyện Văn Giang, tỉnh Hƣng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị C - Kiểm sát viên.

Ngày 17/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST - HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 03/4/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Hoàng N; tên gọi khác: không có; sinh năm: 2005 tại thành phố Hà Nội; HKTT: số E Phố H, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Bùi Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Mai P; Vợ, con: Không có; Tiền án; Tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 26/4/2023 bị TAND quận Nam T Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự về tội Trộm cắp tài sản (thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi). N chấp hành xong án phạt tù ngày 01/01/2024. N bị tạm gi t ngày 28/01/2025 đến ngày 31/01/2025 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt)

* Bị hại:

1. Anh Trương Lê T1, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Lê Văn Đ, sinh năm 2001

Địa chỉ: Đường C D, tổ I, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

3. Anh Phạm Minh P1, sinh năm 2004

Địa chỉ: Số B B, phường M, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

4. Công ty TNHH Đ2

Địa chỉ trụ sở: Thôn S, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện theo pháp luật: Ông phan Thanh C1 - Tổng giám đốc

Đại diện teo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1976

Chức vụ: Phó Tổng giám đốc

Địa chỉ: Tổ G, phường L, quận L, thành phố Hà Nội.

* Ngƣời làm chứng:

1. Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn S, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

2. Ông Bùi Văn H, sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Bị hại, người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Hoàng N, sinh năm 2005, hộ khẩu thường trú (HKTT): số E, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Khoảng 20 giờ ngày 27/01/2025, N đi xe buýt t thành phố Hà Nội đến huyện V, để tìm ai có sơ hở trong việc quản lý tài sản, thì sẽ trộm cắp rồi mang bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến khu vực vòng xuyến thị trấn V, N xuống xe, đi bộ dọc theo đường ĐT 379 theo hướng đi Hưng Yên đến trước cửa Trung tâm B, thuộc thôn S, xã L, huyện V, thì nảy sinh ý định đột nhập vào trung tâm này để trộm cắp tài sản. Để tránh bị phát hiện, N chờ đến khoảng 23 giờ cùng ngày mới tr o qua cổng phụ của Trung tâm bóng đá PVF, để vào khu ký túc xá. Khi N đi vào trong khu ký túc xá đã bị anh Bùi Văn H, sinh năm 1973, HKTT: Thôn H, xã C, huyện V, là bảo vệ của Trung tâm bóng đá PVF phát hiện, gọi điện trình báo với Công an xã L. Lúc này, N đi bằng thang máy lên t ng 8 của khu ký túc xá, rồi đi bằng c u thang bộ t t ng 8 xuống các t ng phía dưới để trộm cắp tài sản.

Tại t ng 8, N trộm cắp được 02 đôi gi y: 01 đôi nhãn hiệu Nike màu trắng xanh, size 42,5 của anh Phạm Minh P1, sinh năm 2004, HKTT: Số B B, phường M, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; 01 đôi nhãn hiệu Nike màu vàng, size 40 của anh Lê Văn Đ, sinh năm 2001, HKTT: Đường C D, tổ I, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam. N mang 02 đôi gi y trộm cắp được ở t ng 8 xuống cất giấu tại khu vực c u thang bộ t ng 6. Sau đó, N đi xuống t ng 5 lấy được 02 đôi gi y: 01 đôi nhãn hiệu Adidas màu xanh, size 40; 01 đôi nhãn hiệu Nike màu cam, size 40,5 đều là của anh Trương Lê T1, sinh năm 1992, HKTT: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. N tiếp tục mang 02 đôi giày này lên c u thang bộ t ng 6 cất giấu cùng với 02 đôi gi y trộm cắp được ở t ng 8. Tiếp đó, Nam lại xuống hành lang t ng 5 trộm cắp được của Trung tâm B 01 quả bóng đá nhãn hiệu Động lực, tiêu chuẩn FIFA, size số 5. Khi N c m quả bóng đi được khoảng 5m định lên c u thang bộ t ng 6 cất giấu cùng 04 đôi gi y trên thì bị Công an xã L bắt quả tang, thu gi vật chứng là 01 quả bóng đá và 4 đôi gi y nêu trên. Công an xã L đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và bàn giao Bùi Hoàng N cùng toàn bộ vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã yêu c u định giá đối với các tài sản do N trộm cắp được. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/BKL-ĐGTS ngày 03/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 quả bóng đá Động Lực size 5, tiêu chuẩn FIFA giá trị 2.187.500 đồng; 01 đôi gi y đá bóng nhãn hiệu Nike, màu cam, size 40,5 giá trị 3.333.333 đồng; 01 đôi gi y đá bóng nhãn hiệu Adidas, màu xanh, size 40 giá trị 3.500.000 đồng; 01 đôi gi y đá bóng nhãn hiệu Nike màu vàng, size 40 giá trị 4.550.000 đồng; 01 đôi gi y đá bóng nhãn hiệu Nike màu trắng - xanh, size 42,5 giá trị 2.975.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 16.545.833 đồng.

Ngày 24/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả 01 quả bóng đá Động Lực, size 5 tiêu chuẩn FIFA cho chị Nguyễn Thị Mỹ D là người đại diện Trung tâm B; trả cho anh Lê Văn Đ 01 đôi gi y nhãn hiệu Nike màu vàng, size 40; trả cho anh Trương Lê T1 01 đôi gi y nhãn hiệu Adidas màu xanh, size 40 và 01 đôi gi y nhãn hiệu Nike màu cam, size 40,5; trả cho anh Phạm Minh P1 01 đôi gi y nhãn hiệu Nike màu trắng - xanh, size 42,5.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu c u N phải bồi thường gì.

Tài sản, đồ vật đã thu gi chưa xử lý: Không có.

Quá trình điều tra, Bùi Hoàng N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSVG ngày 18/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Bùi Hoàng N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát vẫn gi nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng N t 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày bị cáo bị tạm gi , tạm giam 28/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

- Bị hại, người làm chứng vắng mặt không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy nh ng người tham gia tố tụng vắng mặt nhưng họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án vắng mặt nh ng người tham gia tố tụng trên.

. Về hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của nh ng người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 28/01/2025, tại Trung tâm B thuộc địa phận thôn S, xã L, huyện V, Bùi Hoàng N đã lén lút chiếm đoạt của anh Trương Lê T1 02 đôi gi y đá bóng, gồm: 01 đôi nhãn hiệu Adidas màu xanh, size 40, giá trị là 3.500.000 đồng; 01 đôi nhãn hiệu Nike màu cam, size 40,5, giá trị 3.333.333 đồng; của anh Lê Văn Đ 01 đôi nhãn hiệu Nike màu vàng, size 40 của anh Lê Văn Đ giá trị 4.550.000 đồng; của anh Phạm Minh P1 01 đôi nhãn hiệu Nike màu trắng xanh, size 42,5 giá trị 2.975.000 đồng; của Trung tâm B 01 quả bóng Động lực size 5, tiêu chuẩn FIFA, giá trị 2.187.500 đồng. Tổng trị giá tài sản là 16.545.833 đồng. Khi đang thực hiện hành vi phạm tội, N đã bị Công an xã L phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 26/4/2023 Bùi Hoàng N bị Tòa án nhân dân quận Nam T Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Thời điểm N phạm tội trong vụ án này khi N chưa đủ 18 tuổi, bị xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng nên theo điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự, l n phạm tội này của N được coi là không có án tích. Do đó, trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã một l n bị kết án về tội trộm cắp tài sản.

. Về hình phạt chính:

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy: Bị cáo đã t ng bị xử phạt tù nhưng không chịu tu dưỡng, r n luyện bản thân, nay lại phạm tội do lỗi cố ý nên c n cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, góp ph n phòng ng a chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu c u bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Khoản 1 Điều 292; Khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

3. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng N 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày bị cáo tạm gi , tạm giam 28/01/2025.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Hoàng N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ