- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 9 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Thanh Cao
2. Ông Nguyễn Phát Triển
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Pha - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 -Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Từ Thị Minh Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 33/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Ngọc T, sinh năm 1998; Địa chỉ: số D, thôn X, xã P, tỉnh Đắk Lắk, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: số A, ấp V, xã L, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2025 và tờ tự khai ngày 01/8/2025 nguyên đơn Hồ Thị Ngọc T trình bày: Chị T và anh T1 quen biết, tìm hiểu nhau và kết hôn với nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 24/6/2020. Sau kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T1 không chăm lo cho vợ con. Trong cuộc sống mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Bất đồng quan điểm không thống nhất với nhau. Tình cảm vợ chồng thật sự không còn hợp nhau, chị T đã cố gắng dung hòa, nhiều lần trao đổi để giữ mối quan hệ hôn nhân này nhưng tình cảm vợ chồng hiện nay không thể hàn gắn lại được nên vợ chồng đã xa nhau và ly thân hơn 06 tháng nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, nên chị Hồ Thị Ngọc T yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn T1. Quá trình sống chung thì chị T và anh T1 có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Gia H, sinh ngày 09/8/2020 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 12/01/2024 hiện cháu H và chái B đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, nợ chung chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do tại phiên họp công khai chứng cứ và các phiên toà xét xử vụ án và anh T1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị Ngọc T.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
+ Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
+ Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: cho chị Hồ Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1; Về con chung: Chị T yêu cầu được nuôi 02 con chung tên Nguyễn Hồ Gia H, sinh ngày 09/8/2020 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 12/01/2024 hiện đang sống với chị T, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; Về tài sản, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị Ngọc T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1, yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Hồ Gia H, sinh ngày 09/8/2020 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 12/01/2024, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, ngoài ra không có yêu cầu gì khác nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn Nguyễn Văn T1 có địa chỉ thường trú tại xã L, tỉnh Đồng Tháp do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn T1 đến phiên toà lần thứ hai nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T và anh T1.
Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau vào năm 2020 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 24/6/2020 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Chị T trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong cuộc sống mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Tình cảm vợ chồng thật sự không còn hợp nhau nên vợ chồng đã xa nhau, ly thân hơn 06 tháng nay. Xét thấy, tình cảm của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Như vậy, việc vắng mặt của anh T1 được xem là từ bỏ quyền trình bày của mình và bỏ mặc cuộc hôn nhân này.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Ngọc T đối với anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: Chị Hồ Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T1 có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Gia H, sinh ngày 09/8/2020 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 12/01/2024 hiện nay đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, chị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung tên H và B, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Còn anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với việc nuôi con chung. Xét thấy cháu H và B hiện nay đang do chị T nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định cuộc sống cho con chung. Hội đồng xét xửquyết định giao cháu Nguyễn Hồ Gia H, sinh ngày 09/8/2020 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 12/01/2024 cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, còn anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến của mình về cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về chia tài sản chung của vợ chồng. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết về tài sản chung của vợ chồng chị T và anh T1 trong vụ kiện này.
Về nợ chung: Chị T trình bày vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở, nên được xem xét chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T1 được quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hồ Gia H, sinh ngày 09/8/2020 và Nguyễn Hồ Gia B, sinh ngày 12/01/2024 (hiện do chị T đang nuôi dưỡng) cho chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con được đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
5. Về nợ chung: Không có.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Hồ Thị Ngọc T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai số 0000137 ngày 14 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
7. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thihành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSNDKV 7 - Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã L, tỉnh Đồng Tháp (CNKH số 43 ngày 24/6/2020) (biết); - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Nhựt Minh |