- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC đối với bà Võ Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG THÁP TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2025/DS-ST Ngày: 23/9/2025 V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG THÁP, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Cẩm Hừng
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Kiều;
2. Ông Nguyễn Phú Hữu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lệ Huyên- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2025/TLST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2025, về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 103/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC (viết tắt là PB).
Trụ sở chính: Số 22, đường NQ, Phường TT, Quận HK, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L, chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Trung Ng, Chức vụ: Phó Giám đốc Khối quản lý và Tái cấu trúc Tài sản, địa chỉ Số 264E, LS, Phường MB, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Quyết định ủy quyền số 10772/UQ-PVB ngày 10/6/2020 của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP ĐC).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hoàng Trung Ng: Anh Nguyễn Trọng Ngh, chức vụ: Giám đốc Khách hàng cá nhân và chị Trịnh Quyền A, chức vụ: Chuyên viên QLKH, cùng địa chỉ: Lầu 6, Tòa nhà PB, Số 131, đường TĐ, Phường TB, Quận NK (nay là Phường NK), Thành phố Cần Thơ (Giấy ủy quyền số 6254/UQ-PVB ngày 24/12/2024).
2. Bị đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Số 238/18, đường NH, khóm B, Phường B1, thành phố C (nay là khóm HA, Phường C), tỉnh Đồng Tháp.
(Chị Trịnh Quyền A có mặt, anh Nguyễn Trọng Ngh, bà Võ Thị H vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm chị Trịnh Quyền A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Võ Thị H cùng Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC – Chi nhánh Đồng Tháp đã ký Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 1704/2017/HĐTD/PVB-CNĐT ngày 14/4/2017 với nội dung: Số tiền thực tế giải ngân là 100.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà H đã không thực hiện việc trả nợ theo như cam kết. PB đã nhiều lần gửi thông báo, công văn để yêu cầu bà H thanh toán khoản vay cho PB theo đúng quy định. Tuy nhiên, bà H không thực hiện yêu cầu và có biểu hiện kéo dài thời gian, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, tính đến ngày 23/9/2025, bà H còn nợ PB số tiền vốn gốc là 64.928.919 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.445.597 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.848.428 đồng, tiền chậm trả lãi trong hạn là 8.754.348 đồng, tổng số tiền vốn gốc và tiền lãi là 158.977.292 đồng.
Nay PB khởi kiện yêu cầu:
- Buộc bà Võ Thị H thanh toán cho PB tổng số tiền 158.977.292 đồng (Trong đó: Tiền vốn gốc là 64.928.919 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.445.597 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.848.428 đồng, tiền chậm trả lãi trong hạn là 8.754.348 đồng).
- Bà Võ Thị H phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh từ ngày 24/9/2025 theo lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 1704/2017/HĐTD/PVB-CNĐT ngày 14/4/2017 cho đến khi bà H thanh toán xong các khoản nợ.
Đối với bị đơn Võ Thị H: Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Võ Thị H nhưng bà H không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến vụ án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 1704/2017/HĐTD/PVB-CNĐT ngày 14/4/2017, ngoài ra nguyên đơn và bị đơn cũng không có yêu cầu nào khác nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Võ Thị H có địa chỉ tại Số 238/18, đường NH, khóm B, Phường B1, thành phố C (nay là khóm HA, Phường C), tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp theo quy định Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là bà Võ Thị H nhưng bà H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC yêu cầu bà Võ Thị H thanh toán tổng số tiền 158.977.292 đồng (Trong đó: Tiền vốn gốc là 64.928.919 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.445.597 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.848.428 đồng, tiền chậm trả lãi trong hạn là 8.754.348 đồng).
Hội đồng xét xử nhận định, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC cung cấp cho Tòa án Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 1704/2017/HĐTD/PVB-CNĐT ngày 14/4/2017, Khế ước nhận nợ số 1704/2017/KUNN-CNĐT ngày 14/4/2017. Trong hợp đồng, khế ước nêu trên có chữ ký tên và chữ viết họ tên của bà Võ Thị H.
Theo hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ nêu trên thì bà H đã vay của PB số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất cố định từ ngày 14/4/2017 đến ngày 13/7/2017 là 14%/năm. Từ ngày 14/7/2017 đến hết thời hạn vay: Lãi suất cho vay = Ls13 + biên độ tối thiểu 6%/năm, kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần (ls13 là lãi suất tiền gửi Đại chúng dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ, theo biểu lãi suất huy động của Ngân hàng trong từng thời kỳ).
Sau khi vay, bà H đã thanh toán được số tiền 56.328.906 đồng nợ gốc, 21.257.825 đồng nợ lãi thì ngưng đóng cho đến nay. Đến ngày 23/9/2025, bà H còn nợ lại PB tổng số tiền 158.977.292 đồng (Trong đó: Tiền vốn gốc là 64.928.919 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.445.597 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.848.428 đồng, tiền chậm trả lãi trong hạn là 8.754.348 đồng).
Bị đơn bà Võ Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, từ khi nhận Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay bà H không cung cấp cho Tòa án văn bản ý kiến hay tài liệu chứng cứ thể hiện việc phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLTTDS năm 2015 cũng quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.”
Như vậy, có cơ sở xác định việc bà Võ Thị H có vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC (PB) và việc bà H không thực hiện việc trả tiền nợ vay còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC yêu cầu bà Võ Thị H trả tổng số tiền 158.977.292 đồng (Trong đó: Tiền vốn gốc là 64.928.919 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.445.597 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.848.428 đồng, tiền chậm trả lãi trong hạn là 8.754.348 đồng) là có cơ sở và phù hợp theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC, buộc bà Võ Thị H trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC tổng số tiền 158.977.292 đồng (Trong đó: Tiền vốn gốc là 64.928.919 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.445.597 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.848.428 đồng, tiền chậm trả lãi trong hạn là 8.754.348 đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 468 của Bộ Luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 90 và 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 8, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC đối với bà Võ Thị H.
Bà Võ Thị H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC tổng số tiền là 158.977.292 đồng (Một trăm năm mươi tám triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi hai đồng), trong đó: Tiền vốn gốc là 64.928.919 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.445.597 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.848.428 đồng, tiền chậm trả lãi trong hạn là 8.754.348 đồng.
Kể từ ngày 24/9/2025, bà Võ Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 1704/2017/HĐTD/PVB-CNĐT ngày 14/4/2017, Khế ước nhận nợ số 1704/2017/KUNN-CNĐT ngày 14/4/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong Hợp đồng và Khế ước nêu trên, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC thì lãi suất mà bà Võ Thị H còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC theo quyết định của Toà án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Võ Thị H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.949.000 đồng (Bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐC được nhận lại số tiền 3.784.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000742 ngày 25/7/2025 của Thi hành án tỉnh Đồng Tháp.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKS ND KV6-ĐT; - TAND Tỉnh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Cẩm Hừng |