vanban.org

Bản án 44/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đen - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST
Ngày 29/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoàng An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm.

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2002, tại tỉnh Long An; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Long An; chỗ ở: Đường H5, khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980 và mẹ là Nguyễn Thị Thu B, sinh năm 1984; bị cáo có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ là đối tượng nghiện ma túy đá (Methamphetamine). Khoảng đầu tháng 01/2023, Đ từ tỉnh Long An đến thuê ki ốt số 01, nhà trọ D, thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương ở để đi làm thuê.

Chiều ngày 14/10/2023, Đ đi bộ đến khu vực nhà hát thuộc phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát chơi thì gặp một thanh niên tên Biển (không rõ lai lịch) nên cả hai làm quen rồi ngồi nói chuyện với nhau. Sau đó, Đ hỏi Biển chỗ mua ma túy thì Biển dẫn Đ đi bộ đến khu vực cuối đường NB6, thuộc khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát gặp một thanh niên tên Dương (không rõ lai lịch) mua được 200.000 đồng ma túy đá rồi Biển đem về phòng trọ sử dụng hết một mình.

Khoảng 13 giờ ngày 15/10/2023, Đ đang ở ki ốt số 01, nhà trọ D, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ đi bộ đến khu vực cuối đường NB6 tìm Dương để mua ma túy đem về sử dụng. Khoảng 10 phút sau, Đ thấy Dương điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chạy ngang qua nên gọi Dương lại và mua được 200.000 đồng ma túy đá để trong một gói nylon hàn kín. Đ cất gói nylon chứa ma túy vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về ki ốt số 01 nhà trọ D. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Bến Cát phối hợp với lực lượng Công an phường Thới Hòa đến kiểm tra hành chính ki ốt của Đ. Lúc này, Đ lén cầm túi nylon hàn kín chứa ma túy đá trong túi quần đang mặc đem vào nhà vệ sinh để cất giấu thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ ma túy và đã tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với Đ.

Vật chứng thu giữ: Một gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng.

Theo Kết luận giám định số 573/KL-KTHS(MT) ngày 20/10/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (bị thu giữ) gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,1184 gam loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định là 0,0847 gam Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSBC ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy một bì thư niêm phong ghi số vụ 573/PC09 bên ngoài có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Văn Đ, người chứng kiến Hồ Minh H, cán bộ niêm phong Đặng Duy N, Thiếu tá Nguyễn Thanh H (Phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ của Công an phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (theo Kết luận giám định số 573/KL-KTHS (MT) ngày 20/10/2023).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và bản luận tội của Viện Kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 15/10/2023, Đ có hành vi cất giấu gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng trong túi quần bên phải đang mặc tại ki ốt số 01, nhà trọ D, thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương

Theo Kết luận giám định số 573/KL-KTHS(MT) ngày 20/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (bị thu giữ) gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,1184 gam loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định là 0,0847 gam Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Như vậy, Cáo trạng số 54/CT-VKSBC ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý đồng thời còn xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Do đó cần có một hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt và góp phần răn đe ngăn ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với đối tượng tên Dương (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Đ, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.

Về vật chứng: Một bì thư niêm phong ghi số vụ 573/PC09 bên ngoài có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Văn Đ, người chứng kiến Hồ Minh H, cán bộ niêm phong Đặng Duy N, Thiếu tá Nguyễn Thanh H (Phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ của Công an phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (theo Kết luận giám định số 573/KL-KTHS (MT) ngày 20/10/2023) là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: Một bì thư niêm phong ghi số vụ 573/PC09 bên ngoài có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Văn Đ, người chứng kiến Hồ Minh H, cán bộ niêm phong Đặng Duy N, Thiếu tá Nguyễn Thanh H (Phó trưởng Công an phường) và hình dấu đỏ của Công an phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (theo Kết luận giám định số 573/KL-KTHS (MT) ngày 20/10/2023).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ