- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! !THÀNH!PHỐ!BẮC!NINH!! TỈNH!BẮC!NINH! ! Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày 20 – 12 – 2024 |
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!BẮC!NINH,!TỈNH!BẮC!NINH!
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc.!
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Như Hùng và ông Cáp Văn Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Tuyết Nhung – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 20/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn!Trường!G, sinh năm 1975; HKTT: Số nhà 62 đường Lý Thường Kiệt, khu 6, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 và bà: Trần Thị N, sinh năm 1952; Có vợ: Trương Thị H, sinh năm 1976 (Đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Tại Bản án số 12/HSPT ngày 06/3/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999. Ngày 09/6/2001 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
+ Tại Bản án số 63/HSST ngày 17/3/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Tháng 02/2007 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hải N, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số 66A, khu 6, phường Đ, thành phố B. Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Đỗ Cường Dũng - Cán bộ phụ trách công nghệ thông tin, TAND thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh có mặt tại điểm cầu trung tâm.
2. Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 04/9/2024, Nguyễn Trường G, sinh năm 1975; HKTT: Khu 6, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có nhu cầu sử dụng ma túy nên điều khiển xe mô tô BKS 99H9-8745 đi từ nhà đến số nhà 112 đường Lý Anh Tông, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh tìm mua ma túy. Khi đến nơi, G gọi cửa và đặt vấn đề mua ma túy đá thì có người đàn ông phía trong cổng hỏi vọng ra mua bao nhiêu, G trả lời mua 900.000 đồng. Sau đó, G đưa 900.000 đồng qua khe cổng, người đàn ông nhận tiền rồi đưa qua khe cổng 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. G biết đó là ma túy nên đã cầm ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày khi G điều khiển xe đến đoạn đường Lý Thái Tổ, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thì gặp lực lượng Công an nên đã để túi ma túy dưới yên xe do sợ bị phát hiện. Đúng lúc này Cơ quan Cảnh sát điều tra phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh yêu cầu G dừng xe, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang G có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:
+ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng tại yên xe mô tô BKS 99H9-8745 do Nguyễn Trường G tự nguyện giao nộp
+ 01 chiếc xe mô tô BKS 99H9 – 8745.
Tại bản Kết luận giám định số: 2109/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 1,8358 gam; là ma túy; loại ma túy: Methamphetamine”
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 289/CT-VKSTPBN ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nguyễn Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Trường G đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nam trình bày ngày 04/9/2024 anh có cho bố là Nguyễn Trường G mượn xe nhưng không biết và bố anh cũng không nói cho biết việc bố anh mượn xe để đi mua ma túy. Anh xác nhận đã nhận lại được xe và không yêu cầu gì.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Nguyễn Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường G từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.
- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo nhất trí với phần luận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TOÀ!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 04/9/2024, tại đường Lý Thái Tổ, phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Trường G có hành vi tàng trữ trái phép 1,8358 gam ma túy loại Methaphetamine để sử dụng cho bản thân.
Vậy, Cáo trạng truy tố số 289/CT-VKSTPBN ngày 29 tháng11 năm 2024 đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý huỷ hoại sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội.
[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực nhận thức, đã từng bị kết án, phải chấp hành hình phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học nghiêm khắc cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc xử phạt bị cáo hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 99H9 – 8745 mà G điều khiển đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định chiếc xe này G mượn của anh Nguyễn Hải Nam, sinh năm 1995; HKTT: Khu 6, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh là con của G. Anh Nam không biết G điều khiển xe mô tô trên đi mua ma túy nên ngày 28/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại anh Nam chiếc xe là phù hợp.
[8] Đối với người đàn ông bán ma túy cho G ở số nhà 112 Lý Anh Tông, phường Võ Cường, quá trình điều tra G khai: Khi mua ma túy, G không nhìn thấy mặt người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã tiến hành xác minh xác định chủ sở hữu ngôi nhà số 112 đường Lý Anh Tông là anh Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1976 và vợ là chị Dương Thị Nga, sinh năm 1980. Anh Thịnh và chị Nga trình bày chiều ngày 04/9/2024 anh Thịnh đi Hà Nội có việc, không có mặt ở nhà, chị Nga xác nhận không có ai đến hỏi mua ma túy. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với anh Nguyễn Hải Nam đã cho G mượn xe mô tô BKS 99H9-8745 vào tối 04/9/2024, anh Nam không biết G điều khiển xe đi mua ma túy nên cơ quan Cảnh sát điều tra chỉ nhắc nhở là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường G 34 (Ba mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/9/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 2109/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh (Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 29/11/2024 giữa Công an thành phố Bắc Ninh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trường G phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TANDtỉnhBắc Ninh; - Công an thành phốBắc Ninh; - THA dân sự thành phố Bắc Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. Hội!thẩm!nhân!dân ! !Nguyễn!Như!Hùng!!!!!!!!!!!!!Cáp!Văn!Dũng! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TOẠ!PHIÊN!TOÀ! ! ! ! ! ! Đỗ!Thanh!Ngọc! ! HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM !!!!!!!!Chủ!tọa!phiên!tòa! ! ! ! Đỗ!Thanh!Ngọc! |