- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bành Trọng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 28/02/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Phi Hồng 2. Ông Trần Văn Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo là thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: ông Vũ Đình Tứ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Bành Trọng T (Tên gọi khác: Không), S năm 2000 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 11/12.
Con ông Bành Trọng Q và bà Nguyễn Thị Cao K
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được tại ngoại điều tra (Bị cáo có mặt)
Người đại diện theo pháp luật cho người bị hại bà Võ Thị D (đã chết) là ông Trương Minh P (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng hơn 05 giờ, ngày 20/01/2022, Bành Trọng T có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 92D1 – 425.43 lưu thông trên đường Q theo hướng từ phà C đi huyện L. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp H, xã V, huyện N, do T điều khiển xe mô tô vượt không đảm bảo an toàn nên đã để yếm bên phải xe mô tô biển số 92D1 – 425.43 va chạm với giá đỡ yên sau xe đạp do bà Võ Thị D (sinh năm 1946, ĐKTT: ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Đồng Nai) điều khiển phía trước cùng chiều. Hậu quả vụ tai nạn làm bà D tử vong.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 20/01/2022 của Công an huyện N xác định:
Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại KM 09 đường Q thuộc ấp H, xã V, huyện N. Đường thẳng, hai chiều đường, được phân biệt bằng vạch sơn màu vàng không liên tục, rải nhựa bằng phẳng. Mỗi chiều đường có 2 làn xe chạy được phân biệt bằng vạch sơn màu trắng liên tục, chiều rộng làn đường thứ nhất sát lề phải (theo hướng từ C đi L) là 2m20, chiều rộng làn đường thứ 2 là 3m50. Hiện trường lấy trụ điện số 109 bên ngoài lề phải đường Q theo hướng C đi huyện L, cách lề phải 2m00, cách tâm trục bánh xe phía trước xe mô tô BKS: 92D1-425.43 là 12m30 làm mốc hiện trường. Chọn hướng từ C đi huyện L làm hướng khám nghiệm, mép đường bên phải làm mép chuẩn: + Sau tai nạn, nạn nhân được chở đến Bệnh viện Đ để cấp cứu và tử vong. + Xe đạp (ký hiệu 01) sau va chạm, xe ngả về bên trái, xe nằm ngoài mép đường bên phải, bánh sau xe đạp nằm ở ngoài mép đường bên phải, đầu xe quay về hướng huyện L và hơi chếch vào lề đường bên phải, từ trục bánh trước và bánh sau của xe đạp lần lượt cách mép chuẩn là 0m35; 0m15.
+ Vết cày thứ nhất (ký hiệu 02) nằm trên làn đường thứ 1 chiều đường bên phải (theo hướng khám nghiệm) có chiều dài 2m00, có chiều từ C đi huyện L và hơi chếch vào mép chuẩn. Từ điểm đầu vết cày và điểm cuối vết cày (điểm đầu chân chống) cách mép chuẩn lần lượt là 1m08; 0m15. + Xe mô tô 92D1-425.43 (ký hiệu 03) sau va chạm, xe ngả về bên trái, xe nằm ở trên làn đường thứ 2 (chiều đường L đi C), đầu xe quay về hướng huyện L và hơi chếch vào lề đường bên phải, từ trục bánh trước và bánh sau của xe mô tô lần lượt cách mép chuẩn là 6m00; 7m00. Từ tâm trục bánh trước (01) đến tâm trục bánh sau (03) cách nhau 21m30 theo hướng C đi L.
+ Vết cày thứ hai (ký hiệu 04) nằm kéo dài từ làn đường thứ 1 chiều đường bên phải sang làn đường thứ 2 chiều đường bên trái (theo hướng khám nghiệm) có chiều dài 34m65, có chiều từ C đi huyện L hơi chếch vào lề trái. Từ điểm đầu vết cày (nằm trên làn đường thứ 1 bên phải) và điểm cuối vết cày (gác chân giữa bên trái, nằm trên làn đường thứ 2 chiều đường bên trái) cách mép chuẩn lần lượt là 1m90; 6m70.
Tại bản kết luận giám định dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 92D1 – 425.43 và 01 xe đạp số 5944/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phân viện KHHS tại Công an thành phố H kết luận:
1. Xe mô tô biển số 92D1 – 425.43 và 01 xe đạp có va chạm với nhau.
2. Cơ chế, chiều hướng hình thành các dấu vết va chạm: Dấu vết trượt xước mất chất màu đen mặt ngoài phía trước cánh yếm bên phải xe mô tô biển số 92D1 – 425.43 có chiều hướng từ trước về sau phù hợp với vết trượt xước bám chất màu đen mặt ngoài thanh kim loại bên trái giá đỡ yên sau có chiều hướng từ sau về trước.
3. Khi va chạm, xe đạp chuyển động trên đường Q, hướng từ phà C đi huyện L; xe mô tô biển số 92D1 – 425.43 chuyển động cùng chiều phía sau.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 724/KL-KTHS ngày 08/4/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận nguyên nhân dẫn đến bà Võ Thị D chết là do chấn thương sọ não nặng: nứt sọ chẩm, máu tụ dưới màng cứng bán cầu trái, phù não lam tỏa trên và dưới lều, tụ máu dưới màng cứng vùng bán cầu đại não phải, xuất huyết dưới nhện, xuất huyết dọc liềm não và lều tiểu não.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô biển số: 92D1 – 425.43.
- 01 xe đạp đã trả cho ông Trương Minh P.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bành Trọng T từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Toà án Căn cứ Điều 106 Bộ luật TTHS, đề nghị Tòa tuyên trả 01 xe mô tô biển số: 92D1 – 425.43 cho Bành Trọng T.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường xong về dân sự cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho T nên không đặt ra giải quyết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.
Bị cáo không có ý kiến gì đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong hồ sơ vụ án đại diện bị hại đã có đơn bãi nại và không có yêu cầu bồi thường gì thêm đối với bị cáo trong vụ án. Do đó, việc vắng mặt đại diện bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bành Trọng T đã khai nhận: Khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 20/01/2022, tại K đường Q thuộc ấp H, xã V, huyện N, B có giấy phép lái xe theo quy định, do T điều khiển xe mô tô biển số 92D1 – 425.43 vượt xe không đảm bảo an toàn với xe chạy liền kề phía trước nên đã để yếm xe bên phải va chạm với xe đạp do bà Võ Thị D đang điều khiển cùng chiều gây tai nạn, làm bà D tử vong.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hành vi của bị cáo Bành Trọng T điều khiển phương tiện tham gia giao thông ngược chiều không đúng quy định gây tai nạn làm bị hại bà Võ Thị D bị thương nặng dẫn đến tử vong, hậu quả chết người xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Như vậy, cáo trạng số 65/CT.VKS ngày 30/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bành Trọng T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Dù không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến cái chết của bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại và người đại diện bị hại có đơn xin bãi nại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo còn có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu lỗi xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, Bị cáo còn mắc bệnh lao phổi cần thăm khám điều trị trường xuyên, bị cáo có cha mẹ già bệnh yếu cần người giúp đỡ, chăm sóc. Trong thời gian tại ngoại không vi phạm gì cho thấy bị cáo tự cải tạo bản thân tốt và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phạt tù giam bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục làm việc, cải tạo bản thân, sửa chữa sai lầm và cũng để giúp cho bị cáo thấy rõ được tính nhân đạo, khoan hồng của chính sách pháp luật hình sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2022 /NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật TTHS trả 01 xe mô tô biển số: 92D1 – 425.43 cho Bành Trọng T.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường xong về dân sự cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho T nên không đặt ra giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết 01/2022 /NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bành Trọng T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt bị cáo Bành Trọng T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bành Trọng T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nơi bị cáo hiện đang sinh sống giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở đi, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Bành Trọng T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Nhơn Trạch; - Công an huyện Nhơn Trạch; - Chi cục THA dân sự H. Nhơn Trạch; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Lưu hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Oanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Oanh |