vanban.org

Bản án 44/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị B, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị B được ly hôn anh Bùi Văn H. Về án phí: Chị Bùi Thị Ba P chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. số tiền án phí chị Ba P chịu được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số:0005541 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ: Bùi Thị B - Bùi Văn H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị B, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ THANH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 24/9/2024
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Văn Len; 2. Bà Lê Thị Giang Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Đại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31D/2024/ QĐXXST - HNGĐ ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2024, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Bùi Thị B - Sinh năm 1998. Trú tại: thôn A, xã X huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn: Anh Bùi Văn H - Sinh năm 1984. Trú tại: thôn D, xã X huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/4/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị B trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn H tự nguyện kết hôn vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ngày 05/12/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên đi làm ăn xa, nên hay xảy ra xung đột cãi nhau; vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 06/2023 và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm chăm sóc đến ai.

Xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị B đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn H.

Về con chung: Chị và anh H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ: Chị Bùi Thị Ba K yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Bùi Thị B còn nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Trích lục kết hôn; Giấy xác nhận về nơi cư trú; thẻ căn cước công dân của chị (bản sao có chứng thực); biên lai thu tiền tạm ứng án phí và đơn xin xử vắng mặt.

* Về phía bị đơn, Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh H các văn bản tố tụng của Tòa án, bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa ... nhưng anh H không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.

* Tại các biên bản xác minh ngày 10/7/2024, ông Nguyễn Đình T là trưởng thôn 4, xã X và bà Quách Thị T1 là mẹ của anh Bùi Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Chị BùiThị Ba và anh Bùi Văn H tự nguyện kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra xung đột cãi nhau; vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị B đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 06/2023 và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Về con chung: Chị B và anh H không có con chung.

Về tài sản và công nợ: ông T và bà T1 không biết thông tin gì về tình trạng tài sản của chị B và anh H.

* Tại phiên tòa: Chị Bùi Thị B có đơn xin xử vắng mặt. Anh Bùi Văn H vắng mặt không có lý do.

Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đều không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Bùi Thị B về việc ly hôn. Theo đó, xử cho chị B được ly hôn anh H. Về án phí, đề nghị buộc chị B chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các bên đương sự là về ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên Tòa án nhân dân huyện Như Thanh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Bùi Thị B có đơn xin xử vắng mặt. Anh Bùi Văn H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa kèm theo giấy triệu tập đến phiên tòa, nhưng anh H không có mặt theo yêu cầu của Tòa án nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị B và anh H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị B và anh Bùi Văn H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ngày 05/12/2017 nên hôn nhân giữa chị B và anh H là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cải vả, xúc phạm nhau nhau; anh chị đã sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn. Vì vậy, nghĩ nên cho chị B được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị B và anh H không có con chung nên không xem xét.

Về tài sản và công nợ: Chị B, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Bùi Thị B là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 271; 273; 278; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 điều 227; Điều 235; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào: Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị B, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị B được ly hôn anh Bùi Văn H.

Về án phí: Chị Bùi Thị Ba P chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. số tiền án phí chị Ba P chịu được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số:0005541 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa; chị B đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ