vanban.org

Bản án 44/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị C.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị C được ly hôn với ông Phạm Ngọc D. Về con chung: Có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị C-Phạm Ngọc D"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ – ST
Ngày 16/7/2024.
V/v: Xin ly hôn và tranh chấp về
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà H’Năm Bkrông.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Phạm Xuân Vinh.

2.Ông Ngô Văn Tuyển.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Hòa Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-DS ngày 08/7/2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Hồ Thị C, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

2.Bị đơn: Ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1.Trong bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị C trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chúng tôi đến với nhau trên cơ sở tìm hiểu và tự nguyện, sau đó chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo giấy chứng nhận kết hôn số: 110/2015, quyền số: 01/2015, cấp ngày 10 tháng 11 năm 2015.

Trước khi đăng ký kết hôn, vợ chồng tôi đã từng có gia đình riêng và con riêng nhưng do mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đã ly hôn theo quy định của pháp luật. Sau đó, chúng tôi quen biết và có tình cảm, đã đăng ký kết hôn và chuyển về chung sống làm ăn với nhau.

Nhưng từ khi đăng ký kết hôn, vợ chồng tôi chung sống không mấy hạnh phúc do mâu thuẫn về vấn đề con chung con riêng, chồng tôi cũng không lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình, thường xuyên uống rượu về đánh đập, xúc phạm, đổ thừa cho tôi và con riêng của tôi. Sự việc này kéo dài và xảy ra thường xuyên nên ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và việc học của con, đến khi tôi và con không thể chịu đựng nữa thì đã sống ly thân nhau từ tháng 8/2023 đến nay. Trước đây, tôi vì nghĩ đến tương lai và tâm lý của các con nên mới nhẫn nhục chịu đựng cố gắng kéo dài mối quan hệ hôn nhân này, nhưng đến nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Phạm Ngọc D.

-Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015. Tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị Tòa án buộc anh Phạm Ngọc D cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng.

-Về tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án bị đơn, ông Phạm Ngọc D trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chúng tôi đến với nhau trên cơ sở tìm hiểu và tự nguyện, sau đó chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ngày 10 tháng 11 năm 2015.

Trong quá trình chung sống vợ chồng chúng tôi cũng có lúc xảy ra mâu thuẫn do có một số vấn đề liên quan đến kinh tế gia đình, con chung con riêng nên có xảy ra cãi vã do vậy chị Chuyện đã bỏ nhà đi từ cuối năm 2023 cho đến nay. Nay chị chuyện làm đơn xin ly hôn thì tôi không đồng ý vì tôi vẫn còn yêu thương vợ con và muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình.

-Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015. Tôi không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết.

-Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Đối với quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay có thể xác định tình trạng hôn nhân của bà Hồ Thị C và ông Phạm Ngọc D mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị C.

+Về con chung: Có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015, quá trình giải quyết vụ án, bà Hồ Thị C có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Phạm Ngọc T, cháu Thạch cũng có nguyện vọng sống cùng mẹ. Xét thấy, nguyện vọng của bà C là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy căn cứ vào khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Phạm Ngọc T cho bà Hồ Thị C nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Hồ Thị C yêu cầu ông Phạm Ngọc D cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng.

+ Đối với tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị C không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị C được ly hôn với ông Phạm Ngọc D.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015.

Giao cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015 cho bà Hồ Thị C nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Ngọc D phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng.

Đối với tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị C không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1].Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là trông chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về trình tự thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Phạm Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về nội dung:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị C và ông Phạm Ngọc D có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 10 tháng 11 năm 2015, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung, sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng nên đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, bà C xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Ngọc D. Quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Ngọc D không đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Hồ Thị C và ông Phạm Ngọc D đã đến mức trầm trọng, vợ chồng mâu thuẫn nhưng không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình, ông D không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có động thái hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà C xác định tình cảm không còn và kiên quyết xin ly hôn, hai vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 8 năm 2023 cho đến nay, như vậy đã thấy được quan hệ hôn nhân giữa bà Hồ Thị C và ông Phạm Ngọc D không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị C, cho bà Hồ Thị C được ly hôn với ông Phạm Ngọc D.

-Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015, trong quá trình giải quyết bà C có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, hiện nay con chung do bà C đang trực tiếp nuôi dưỡng, bên cạnh đó ông D vắng mặt tại phiên tòa nên không thể xác định được nguyện vọng của ông về con chung, quá trình giải quyết vụ án cháu Thạch cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Vì vậy việc giao cháu Phạm Ngọc T cho bà Hồ Thị C nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là hợp lý và đúng với quy định tại khỏan 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Ông Phạm Ngọc D được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên ông D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

-Về cấp dưỡng con nuôi chung: Tại phiên tòa, bà Hồ Thị C yêu cầu ông Phạm Ngọc D cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng. Xét thấy đây là yêu cầu chính đáng, ông D không trực tiếp nuôi con nên phải có trách nhiệm cùng đóng góp phí tổn nuôi con, vì vậy việc bà C yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông D phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi là có căn cứ chấp nhận.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị C không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

. Về án phí: Bà Hồ Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; Ông Phạm Ngọc D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

. Xét ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị C.

-Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị C được ly hôn với ông Phạm Ngọc D.

-Về con chung: Có 01 con chung là cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015.

Giao cháu Phạm Ngọc T, sinh ngày 08 tháng 5 năm 2015 cho bà Hồ Thị C nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Ông Phạm Ngọc D được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên ông D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Phạm Ngọc D phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phạm Ngọc T đủ 18 tuổi.

-Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị C không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

-Về án phí: Nguyên đơn bà Hồ Thị C phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2023/0005560 ngày 07/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Ông Phạm Ngọc D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

-Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. *Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Đắk Lắk;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa -VKSND huyện K; -Chi cục THADS huyện K;

(Đã ký) -UBND xã T, huyện K; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ, TA.

H’ Năm Bkrông

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Tuyển Phạm Xuân Vinh

H’Năm Bkrông *Nơi nhận:

Cỡ chữ