- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn D yêu cầu ly hôn Phan Thị O"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn D đối với bà Lâm Thị O.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST Ngày 11-4-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ni
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Kim Phụng
Ông Nguyễn Văn Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2024/TLST–HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp LĐ, xã LĐiT, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Ông D có đơn đề nghị vắng mặt, đơn đề ngày 07/02/2024.
- Bị đơn: Bà Lâm Thị O, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp LĐ, xã LĐT, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Lâm Thị O tự nguyện chung sống với nhau năm 2002, có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán tại địa phương, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LĐT, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và được Uỷ ban nhân dân xã LĐT cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/7/2009. Trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, ông và bà O đã ly thân từ năm 2019. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với bà O.
Về con chung: Ông và bà O có hai con chung tên Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2003 và Nguyễn Trọng H2, sinh ngày 12/9/2014; em H1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết; Em H2 hiện do bà O nuôi dưỡng, ông D đồng ý giao em H2 cho bà O tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà O không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn thực hiện không đúng quy định tại Điều 70, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 53, 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn D đối với bà Lâm Thị O; Về con chung: Ông D và bà O có hai con chung tên Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2003 và Nguyễn Trọng H2, sinh ngày 12/9/2014; em H1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên không giải quyết; giao em Hưởng cho bà O tiếp tục nuôi dưỡng, ông D không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết; ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét; án phí dân sự sơ thẩm ông D phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn D yêu cầu ly hôn với bà Lâm Thị O, bà O cư trú tại ấp LĐ, xã LĐT, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bà Lâm Thị O đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D và bà O theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D yêu cầu ly hôn với bà Lâm Thị O, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông D và bà O tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LĐT, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và được Uỷ ban nhân dân xã LĐT cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/7/2009 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian chung sống ông D và bà O phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, ông và bà O đã ly thân từ năm 2019. Nay tình cảm đã không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với bà O.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà O tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên toà nhưng bà O vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện bà O không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân giữa ông D và bà O đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D đối với bà O.
Về con chung: Ông D xác định ông và bà O có hai con chung tên Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 18/12/2003 và Nguyễn Trọng H2, sinh ngày 12/9/2014; em H1 đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân, ông D không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét; em H2 hiện do bà O nuôi dưỡng. Xét thấy: Em H2 hiện do bà O nuôi dưỡng nên cần được giữ nguyên để đảm bảo việc phát triển bình thường của em. Do đó, cần giao em Hưởng cho bà O tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ông D không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông D xác định ông và bà O không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn D đối với bà Lâm Thị O.
2. Về con chung: Em Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2003 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, ông D không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Giao em Nguyễn Trọng H2, sinh ngày 12/9/2014 cho bà Lâm Thị O tiếp tục nuôi dưỡng; ông Nguyễn Văn D không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.
Ông Nguyễn Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng ông Nguyễn Văn D phải chịu, ông D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009871 ngày 04/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí 300.000 đồng.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Án xử sơ thẩm công khai, ông Nguyễn Văn D và bà Lâm Thị O có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - UBND xã LĐT; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Ni |