vanban.org

Bản án 44/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng C đối với anh Võ Văn T. Chị Nguyễn Thị Mộng C được ly hôn với anh Võ Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Võ Thị Bảo N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2014 cho anh Võ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị C không cấp dưỡng nuôi con. Có sự đồng ý sống chúng vứi bà của cháu N. Chị C được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Anh T cùng các thành viên trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mộng C và Võ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng C đối với anh Võ Văn T. Chị Nguyễn Thị Mộng C được ly hôn với anh Võ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03-5-2024
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cái Thị Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân

2. Bà Nguyễn Xuân Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 599/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng C, sinh năm 1997; trú tại: Tổ B, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

* Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1990; trú tại: Tổ E, ấp G, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Chị C có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24 tháng 11 năm 2023 và các l i khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng C trình bày:

Chị và anh Võ Văn T chung sống vào năm 2011 đến năm 2014 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, thời gian gần đây thường phát sinh mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hàng ngày, anh T đi làm không lo cho gia đình con cái, thường xuyên nhậu nhẹt, khi về nhà hay cãi nhau chúng tôi đã sống ly thân hơn 2 năm nay, chị C đã về nhà sống chung với mẹ ruột tại huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hiện vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng cho mình nên chị C xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Bảo N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2014. Hiện cháu N đang sống với ba và bà nội. Chị C đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Võ Văn T không đến Tòa, không có l i trình bày, vắng mặt không lý do.

Tại phiên toà:

Tại tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị tuyên:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng C đối với anh Võ Văn T.

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Bảo N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2014. Hiện cháu N đang sống với ba và bà nội từ nhỏ đến nay nên cần giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị C không cấp dưỡng nuôi.

Về tài sản chung, nợ chung, chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị C phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mộng C có đơn xin vắng mặt. Anh T là bị đơn trong vụ án vắng mặt không lý do. Căn cứ vào biên bản xác minh của Tòa án ngày 26 tháng 12 năm 2023 thì hiện tại anh T có hộ khẩu tại tổ E, ấp G, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh, hiện tại anh T vẫn còn sinh sống tại địa chỉ trên. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự mời anh T lên Tòa làm việc nhưng anh không đến cũng như không có lời khai về vụ án, anh T thường xuyên vắng mặt tại địa phương vào giờ hành chính, Tòa án có tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị C và anh T là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh Võ Văn T chung sống với nhau vào năm 2011 đến năm 2014 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường, thời gian gần đây thường phát sinh mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong công việc và cuộc sống hàng ngày, anh T đi làm không lo cho gia đình con cái, thường xuyên nhậu nhẹt, khi về nhà hay cãi nhau. Anh, chị đã sống ly thân hơn 2 năm nay, chị C đã về nhà sống chung với mẹ ruột tại huyện T. Hiện vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng cho mình nên chị C xin ly hôn với anh T.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C, Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng chung sống cần có sự gần nhau, chia sẻ, đồng cảm, quan tâm chăm sóc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và cùng có trách nhiệm với gia đình, con cái. Trong mối quan hệ vợ chồng của chị C, anh T không còn sự chia sẻ và đồng cảm, không hiểu nhau, không còn tình cảm, không hạnh phúc, thời gian sống ly thân của anh chị đã lâu không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng được. Hiện chị C, anh T không còn tình cảm với nhau, không thương yêu nhau nên yêu cầu xin ly hôn của chị C là có căn cứ chấp nhận.

Anh T không đến Tòa, không có lời trình bày, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa cho anh T, anh T biết nhưng anh không đến Tòa là từ bỏ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị C nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Bảo N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2014. Hiện cháu N đang sống với ba và bà nội từ nhỏ, chị C đồng ý giao con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giao dục là phù hợp. Chị C không cấp dưỡng nuôi con chung, xét yêu cầu này của chị C thì thấy rằng, hiện tại cuộc sống của chị C rất khó khăn, chưa đủ điều kiện để nuôi con chung là bé Bảo N, khi nào có đủ điều kiện thì sẽ đưa bé về cùng sống chung với chị và hiện tại anh T vẫn có khả năng nuôi cháu N có sự đồng ý sống với ba của cháu N nên chấp nhận yêu cầu của chị C đồng ý giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị C không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hô i đồng xét xử không xem xét.

Đối với đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Chị C phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng C đối với anh Võ Văn T. Chị Nguyễn Thị Mộng C được ly hôn với anh Võ Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Thị Bảo N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2014 cho anh Võ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị C không cấp dưỡng nuôi con. Có sự đồng ý sống chúng vứi bà của cháu N.

Chị C được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Anh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở.

3. Về tài sản chung; nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mộng C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị C đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008639 ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, chị C đã nộp đủ án phí.

“Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ