- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "yêu cầu bồi thường thiệt hại"
- Tòa quyết gì? Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2024/DS-ST Ngày: 24-4-2024 “V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Thọ
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quang Thanh
2. Ông Bùi Văn Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 668/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự - Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-DS, ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 85/2024/QĐST-DS, ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Th, sinh năm: 1977;
Địa chỉ: Số 130/1, đường H, Tổ 18, khóm Ph, phường M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Ngô Dương Trung V, sinh năm 1983;
Ông Ngô Dương Trung V1, sinh năm 1984;
Cùng địa chỉ: Tổ 18, khóm Ph, phường M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông Th, ông V có mặt; ông V1 vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông Nguyễn Minh Th trình bày: Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 373/TgT, ngày 24/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp đã giám định thương tích như sau: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Minh Th do thương tích gây nên hiện tại là 09%, tại thời điểm giám định; Vụ cố ý gây thương tích của ông V và ông V1 chưa được đề cập tới vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự của ông V và ông V1 đối với ông Th; ông Th không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các chi phí cụ thể như sau:
Tiền viện phí và tiền thuốc:
- Ngày 29/9/2020: Chụp X quang và siêu âm: 252.000 đồng;
- Ngày 30/9/2020: Chụp cắt lớp lồng ngực: 974.000 đồng; thuốc uống: 390.000 đồng;
- Ngày 07/10/2020 Xuất viện: 3.143.000 đồng;
- Ngày 13/10/2020: Khám và tiền thuốc: 168.000 đồng;
- Ngày 19/10/2020: Khám và tiền thuốc: 322.000 đồng;
- Ngày 28/10/2020: Khám và tiền thuốc: 322.000 đồng;
Tổng cộng: 5.571.000 đồng;
Tiền công người nuôi và chăm sóc khi nằm viện: Bà Lê Thị Cẩm Th1 phải nuôi ông Th khi nằm viện điều trị với thời gian là 08 ngày X 300.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng;
Tiền mất thu nhập do trong quá trình bình phục để lao động, sinh hoạt bình thường là 06 tháng; Thu nhập của ông Th trước khi bị thương tích là 15.000.000 đồng/tháng; nên thu nhập bị mất trong 06 tháng là 90.000.000 đồng; Do ông Th và bà Thúy là lao động tự do nên không có giấy tờ để chứng minh thu nhập của mình;
Nay ông Th yêu cầu ông Ngô Dương Trung V và ông Ngô Dương Trung V1 liên đới bồi thường cho ông Th tổng cộng là 97.971.000 đồng, ngoài ra không còn yêu cầu bồi thường khoản nào khác.
- Ông Ngô Dương Trung V trình bày: Yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 588 Bộ luật dân sự và Điều 5 Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt của ông Nguyễn Minh Th.
- Ông Ngô Dương Trung V1 có văn bản ý kiến trình bày: Yêu cầu áp dụng Điều 588 Bộ luật dân sự quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại; Bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt của ông Nguyễn Minh Th.
Yêu cầu cầu đòi bồi thường thiệt của ông Nguyễn Minh Th với số tiền 98.271.000 đồng có dấu hiệu của tội tống tiền đề nghị Tòa án xem xét và chuyển vụ việc đến Công an điều tra xác minh và xử lý ông Nguyễn Minh Th theo quy định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa đề nghị:
Căn cứ: Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 584, 585, 586, 588, 590 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 5 Nghị Quyết 02/NQ-HĐTP;
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn;
Buộc ông V, ông V1 liên đới bồi thường cho ông Th số tiền 3.985.500 đồng
Không chấp nhận yêu cầu của ông Th yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong 06 tháng là 90.000.000 đồng;
Án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cẩu bị đơn bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; Bị đơn ông Ngô Dương Trung V và ông Ngô Dương Trung V1 có địa chỉ tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh theo quy định tại khoản 6 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Ngô Dương Trung V1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Căn cứ vào khoản 2, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông V1.
Việc bị đơn yêu cầu áp dụng về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do thời hiệu khởi kiện đã hết; Xét thấy sự việc gây tổn hại sức khỏe của ông Th xảy ra ngày 27/9/2020 đến ngày 17/8/2023 ông Th nộp đơn khởi kiện yêu cẩu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là còn trong thời hạn khởi kiện theo quy định tại Điều 588 Bộ luật dân sự; Nên không chấp nhận yêu cầu này của bị đơn.
Ngoài ra, ông V1 cho rằng ông Nguyễn Minh Th yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 98.271.000 đồng là có dấu hiệu của tội tống tiền nên đề nghị chuyển vụ việc đến Công an điều tra xác minh và xử lý ông Nguyễn Minh Th là chưa có căn cứ nên không chấp nhận.
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Ngô Dương Trung V và ông Ngô Dương Trung V1 bồi thường chi phí điều trị phục hồi sức khỏe, thu nhập bị mất nên xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự và khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ngày 27/9/2020 giữa bà Thúy (Vợ ông Th), ông Th, ông V1, ông V có xảy ra xô xát với nhau làm cho các bên tham gia bị thương tích. Tại các Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 375; 373; 374; 376/TgT cùng ngày 24/11/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp đã giám định thương tích như sau:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ngô Dương Trung V do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm), tại thời điểm giám định.
- Đối với Nguyễn Minh Th: Vết biến đổi sắc tố da hông – mạn sườn trái. Tỷ lệ tổn thương 01%; Gãy kín xương sườn 6, 7, 8, 9 bên trái. Tỷ lệ tổn thương 08%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Minh Th do thương tích gây nên hiện tại là 09% (Chín phần trăm), tại thời điểm giám định.
- Đối với Ngô Dương Trung V1: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Ngô Dương Trung V1 do thương tích gây nên hiện tại là 05% (Năm phần trăm), tại thời điểm giám định.
Đối với Lê Thị Hồng Nh: Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 00% (Không phần trăm), tại thời điểm giám định.
Tại bản án số: 60/2021/HS-ST, ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt bà Lê Thị Cẩm Th1 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm. Ngoài ra, đối với hành vi của Ngô Dương Trung V, Ngô Dương Trung V1 và Nguyễn Minh Th có dùng tay chân xô xát với nhau gây thương tích nhưng chưa đến mức xử lý hình sự. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh chuyển hồ sơ của V1, V, Th đến Công an phường Mỹ Phú để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo quy định. Từ đó, cho thấy các bên đương sự có xô xát với nhau và thực tế anh Th đã bị thương tích 09% là có thật. Trong quá trình giải quyết vụ án nếu trên các bên không yêu cầu xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự. Do vậy, nay ông Th yêu cầu ông V, ông V1 bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ.
Ông Th yêu cầu ông V1 và ông V liên đới bồi thường cho ông Th tổng cộng là 97.971.000 đồng, trong đó gồm các khoản:
Tiền viện phí và tiền thuốc:
- Ngày 29/9/2020: Chụp X quang và siêu âm: 252.000 đồng;
- Ngày 30/9/2020: Chụp cắt lớp lồng ngực: 974.000 đồng; thuốc uống: 390.000 đồng;
- Ngày 07/10/2020 Xuất viện: 3.143.000 đồng;
- Ngày 13/10/2020: Khám và tiền thuốc: 168.000 đồng;
- Ngày 19/10/2020: Khám và tiền thuốc: 322.000 đồng;
- Ngày 28/10/2020: Khám và tiền thuốc: 322.000 đồng;
Tổng cộng: 5.571.000 đồng;
Tiền công người nuôi và chăm sóc khi nằm viện: Bà Lê Thị Cẩm Th1 phải nuôi ông Th khi nằm viện điều trị với thời gian là 08 ngày X 300.000 đồng/ngày = 2.400.000 đồng;
Tiền mất thu nhập do trong quá trình bình phục để lao động, sinh hoạt bình thường là 06 tháng; Thu nhập của ông Th trước khi bị thương tích là 15.000.000 đồng/tháng; nên thu nhập bị mất trong 06 tháng là 90.000.000 đồng; Do ông Th và bà Th1 là lao động tự do nên không có giấy tờ để chứng minh thu nhập của mình;
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do ông Th cung cấp và kết quả tranh tụng tại phiên tòa qua đó xác định:
Thời gian điều trị của ông Th theo giấy ra viện: Nhập viện từ ngày 30/9/2020, ngày ra viện là 07/10/2020 là 08 ngày; Tái khám lần cuối theo chỉ định là ngày 28/10/2020;
Chi phí điều trị theo đơn hợp lệ là 5.571.000 đồng;
Chi phí người chăm sóc trong thời gian ông Th điều trị tại bệnh viện 08 ngày, với mức 300.000 đồng/ngày là 2.400.000 đồng;
Đây là các chi phí phù hợp theo quy định pháp luật nên chấp nhận;
Đối với ông Th yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập do trong quá trình bình phục để lao động, sinh hoạt bình thường trong 06 tháng là 90.000.000 đồng; Nhưng ông Th không có chứng cứ để chứng minh thu nhập thực tế bị mất như đã trình bày;
Tuy nhiên theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện thời gian ông Th nhập viện điều trị từ ngày 30/9/2020 và ngày tái khám sau cùng của ông Th là ngày 28/10/2020 tổng cộng là 29 ngày. Xét thấy, trong thời gian này ông Th chưa phục hồi sức khỏe nên ông Th chưa lao động được;
Do ông Th không chứng minh được thu nhập thực tế bị mất là 500.000 đồng, ngoài ra ông Th cũng trình bày bản thân là lao động tự do nên áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại là 300.000 đ/ngày.
Thu nhập bị mất được tính là 29 ngày X 300.000 đồng/ ngày = 8.700.000 đồng;
Tổng thiệt hại của ông Th xác định gồm: Chi phí điều trị 5.571.000đồng; Chi phí người chăm sóc trong thời gian ông Th điều trị tại bệnh viện là 2.400.000đồng; Thu nhập bị mất là 8.700.000đồng; Tổng cộng là 16.671.000 ồng.
Tuy nhiên, do việc gây ra thiệt hại cho ông Th cả hai bên tham gia đều có lỗi nên mỗi bên phải chịu 50% thiệt hại là 8.335.000 đồng. Do vậy, ông Ngô Dương Trung V và ông Ngô Dương Trung V1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Minh Th số tiền là là 8.335.500 đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp là phù hợp một phần như đã phân tích nêu trên nên chấp nhận một phần;
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 12 và 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì ông Th được miễn tiền án phí. Ông V và ông V1 phải liên đới chịu tiền án phí là 416.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ:
Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 584, 585, 587, 588, 590 và 468 Bộ luật dân sự;
Các Điều 12 và 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Minh Th;
- Buộc ông Ngô Dương Trung V và ông Ngô Dương Trung V1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Minh Th số tiền là là 8.335.500 (Tám triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn năm trăm) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng người phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Minh Th được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Ngô Dương Trung V và ông Ngô Dương Trung V1 có nghĩa vụ liên đới nộp 416.000 đồng.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS ND TPCL; - Tòa án Tỉnh; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Phú Thọ |