- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Quyết C trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Quyết C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HSST Ngày 20/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Đình Văn.
Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Văn Trồi.
Ông Nguyễn Đức Đạt.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thu Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 20/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2023/HSST ngày 23 tháng 2 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXX-TA ngày 07 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Quyết C, sinh năm 1967; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; HKTT: xy, phường N, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Con ông Vũ Văn K (đã chết); con bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1937; Anh, chị, em ruột: có 06 người bị cáo là thứ tư; Vợ: Lưu Hồng V, sinh năm 1969 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 1988; Tiền sự: không. Danh chỉ bản số 875 lập ngày 26/11/2022 tại Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Tiền án: 09 tiền án
1. Bản án hình sự sơ thẩm số 105/1986/HSST ngày 29/3/1986 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
2. Bản án hình sự sơ thẩm số 05/1988/HSST ngày 11/01/1988 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. F:\TDV\HS\2023\03.20 Vũ Quyết Chiến k2 đ 173\Bản án chính 2.doc
- 2 -
3. Bản án hình sự sơ thẩm số 365/1988/HSST ngày 30/12/1988 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/1991. 4. Bản án hình sự sơ thẩm số 683/1992/HSST ngày 17/11/1992 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/1995. 5. Bản án hình sự sơ thẩm số 07/1996/HSST ngày 21/12/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hình sự phúc thẩm số 460/1997/HSPT ngày 15/4/1997 của TAND Tối cao xử phạt 04 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2000. 6. Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2002/HSST ngày 08/2/2002 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/11/2003. 7. Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2005/HSST ngày 02/3/2005 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân và Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2005/HSPT ngày 02/3/2005 của TAND thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2008. 8. Bản án hình sự sơ thẩm số 221/2009/HSST ngày 23/12/2009 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 07 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/3/2017. 9. Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2018/HSST ngày 17/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 36 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2021.
- Nhân thân: 1. Năm 1984, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định số 843 ngày 10/12/1984 bắt đi tập trung cải tạo 03 năm về hành vi trộm cắp tài sản của công dân. 2. Ngày 05/3/1986 bị Công an quận Đống Đa bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Lê Thị N, sinh năm 1988; trú tại: Phòng 517 H, phường K, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, Vũ Quyết C điều khiển xe máy nhãn hiệu Loncin, màu nâu, BKS: 29N2-6871 đi từ nhà tại phường N, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đến khu vực chợ Hà Đông, phường Nguyễn Trãi, quận Hà
- 3 -
Đông, thành phố Hà Nội xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đi đến đoạn đường đối diện số nhà 37 Bà Triệu, phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông thì phát hiện có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, BKS: 29V1-379.52 đang dựng tại lề đường, C quan sát thấy không có ai đứng gần và ở hốc để đồ phía trước bên trái của xe máy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11 màu xám của chị Lê Thị N, sinh năm 1988 trú tại phường K, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. C điều khiển xe máy đi đến gần chiếc xe máy của chị N rồi dùng tay phải lấy chiếc điện thoại ở hốc để đồ. Lúc này người dân đi phía sau nhìn thấy C trộm cắp nên tri hô, C hoảng sợ bỏ chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào giỏ trước xe máy của C rồi điều khiển xe máy đi về phía cổng B chợ Hà Đông. Khi đi vào trong chợ, C bị ngã xe có 01 vết rách da mặt trước vùng đầu gối chân phải dài 5cm, rộng 2cm thì bị người dân bắt giữ, bàn giao cho Công an phường Nguyễn Trãi. Công an phường Nguyễn Trãi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi - Redmi Note 11 màu xám, lắp sim số 0988212560 và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Loncin (POMUSPACYAN), màu nâu, BKS: 29N2-6871, số khung VVNPCG0031S080189, số máy LC150FMG01218189. Sau bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông điều tra xử lý.
Ngày 18/11/2022, Cơ quan điều tra ra Yêu cầu định giá đối với tài sản trộm cắp bị thu giữ nêu trên. Tại Biên bản và kết luận định giá số 244/KL-HĐĐGTS ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hà Đông kết luận: “- Giá trị tài sản 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi-Redmi Note 11 màu xám có số IMEI sim 1: 861312059293263; IMEI sim 2: 861312059293271 tại thời điểm định giá trị giá 2.800.000 đồng”.
Cáo trạng số 17/CT-VKS-HĐ ngày 22/2/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố:
Vũ Quyết C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Quyết C từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xét.
Về vật chứng:
Đề nghị xử lý theo Điều 228 Bộ luật dân sự đối với 01 Chiếc xe máy nhãn hiệu POMUSPACYAN (Loncin), màu nâu, BKS: 29N2-6871. Sau 1 năm kể từ
- 4 -
ngày đăng thông báo cuối cùng 10/3/2023 mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [2] Về nội dung: Có đủ căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, tại khu vực lề đường đối diện số nhà 37 Bà Triệu, phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Vũ Quyết C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Lê Thị N 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11, màu xám, số Imei 861312059293263, Imei 2: 861312059293271 trị giá 2.800.000 đồng. Hành vi của Vũ Quyết C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xét thấy, hành vi của Vũ Quyết C không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm. Bị cáo có nhân thân rất xấu, từng bị kết án nhiều lần về tội Trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, có 09 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc tương ứng hành vi phạm tội để đảm bảo răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét đến thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt. [3] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung. [4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xét. [5] Về vật chứng: Chiếc xe máy nhãn hiệu Loncin (POMUSPACYAN), màu nâu, BKS: 29N2-6871 là phương tiện Vũ Quyết C dùng vào việc phạm tội. Vũ Quyết C khai chiếc xe máy trên của chị Vũ Thanh Th, sinh năm 1979, trú tại ngõ 278 T, phường T, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (là em gái C) cho C làm phương tiện đi lại. Kết quả tra cứu xe đăng ký tên Bùi Thị T, sinh năm 1966, trú tại phường K, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Chị T khai năm 2010 đã bán
- 5 -
chiếc xe trên cho một người không quen biết (có bàn giao giấy đăng ký xe). Chị Th khai mua chiếc xe máy trên của một người không quen biết vào khoảng năm 2011 với giá khoảng vài triệu, có giấy đăng ký xe mang tên Bùi Thị T. Khoảng tháng 8/2021, chị T cho C chiếc xe máy trên làm phương tiện đi lại. Xe không nằm trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Do đó, sau 1 năm kể từ ngày đăng thông báo cuối cùng 10/3/2023 mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Quyết C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Quyết C 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường nên không xét.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 228 Bộ luật dân sự.
Sau 1 năm kể từ ngày đăng thông báo cuối cùng 10/3/2023 mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu POMUSPACYAN, màu nâu, BKS: 29N2-6871 số khung VVNPCG0031S080189, số máy LC150FMG01218189 (Hiện trạng lốc máy ghi HONDA).
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/3/2023)
4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo Vũ Quyết C phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
ƠƠ
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Hà Đông; - THA quận Hà Đông; - CA quận Hà Đông; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Văn - 6 - |