vanban.org

Bản án 44/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: TU bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

Về Điều luật áp dụng hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tU án 22/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dâm ô đới với người dưới 16 tuổi - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: TU bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 146 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI
Bản án số:44/2023/HSST.
Ngày: 22/6/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O – TP HÀ NỘI  

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Bá Ngọc - Bí thư đoàn xã Đỗ Động, huyện Thanh O

Ông Lê Huy Trọng - Cán bộ nghỉ hưu xã Tam Hưng, huyện Thanh O

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Anh Bích - Thư ký

Toà án nhân dân huyện Thanh O;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O tham gia phiên

toà: Ông Nguyễn Thọ Thuận - KiÓm s¸t viªn.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh O - TP. Hà Nội; xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 46/2023/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023 ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, Sinh năm 1974; Nơi ĐKHK: Xã Vĩnh A, huyện Vĩnh B, thành phố Hải Ph; Chỗ ở hiện nay: Ph*, tòa nhà HH*, khu đô thị Thanh H, xã Cự Kh, huyện Thanh O, TP Hà Nội; Quốc tịch: Viêt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Bố đẻ: Trần Văn Đ; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ch; Có vợ: Đỗ Thị Minh H, sinh năm 1974; Có 03 con: Con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2015; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; Danh chỉ bản số: 96/2023 do Công an huyện Thanh O lập ngày 16/3/2023;

Tiền án, tiền sự: Không. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại: Cháu Nguyễn Ngọc Nhã U, sinh ngày 31/5/2013

- Người đại diện theo pháp luật cho bị hại cháu Nguyễn Ngọc Nhã U:

Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1988 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988.

Cùng trú tại: Ph8, tòa nhà HH8, khu đô thị Thanh H, xã Cự Kh, huyện Thanh O, TP Hà Nội.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Dương Thị H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội.

(Tại phiên tòa bà Hiền có mặt; cháu U, chị T1, anh Tiến có đơn xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trần Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08/3/2023, Trần Văn T sinh năm 1974, có hộ khẩu thường trú xã Vĩnh A, huyện Vĩnh B, thành phố Hải Ph, chỗ ở hiện nay Ph *, tòa nhà HH*, khu đô thị Thanh H, xã Cự Kh, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội đi thang máy số 4 của tòa nhà HH*, khu đô thị Thanh H từ tầng 1 đến tầng 10 để về Ph của mình. Khi T vào trong thang máy từ tầng 1 có gặp cháu Nguyễn Ngọc Nhã U sinh ngày 31/5/2013, trú tại Ph *, tòa nhà HH*, khu đô thị Thanh H, T đi lên tầng 10, còn cháu U đi lên tầng 18. Trong khi thang máy di chuyển lên chỉ có T và cháu U ở trong thang máy, T có nói chuyện hỏi tên tuổi, bố mẹ và số Ph của cháu U, rồi dùng tay phải khoác vào cổ, vai bên phải của cháu U. Khi thang máy đi đến tầng 10 và mở cửa, T dùng chân trái chặn lại để cửa thang máy không bị đóng vào. Lúc này T dùng tay phải vuốt từ phần cổ bên trái xuống đến phần ngực bên trái và sờ, bóp vào ngực, vú của cháu U. T tiếp tục dùng tay phải khoác vào cổ, kéo cháu U sát vào người mình, dùng mũi áp sát vào trán của cháu U và dùng tay phải sờ, bóp vào ngực, vú bên trái của cháu U. Sau đó T bắt tay với cháu U, rồi ra khỏi thang máy đi về Ph của mình.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

- 01 USB màu đen lưu giữ nội dung video do camera ghi lại hình ảnh sự việc ngày 08/3/2023.

Tại bản kết luận giám định số 1834/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định.

Cáo trạng số 46/CT - VKS ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó đại diện Viện kiểm sát đã truy tố theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự là phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người bị hại, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 9 - 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng kể từ ngày tuyên án, về tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi. Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã Cự Kh quản lý giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Ngọc Nhã U và gia đình không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 01 USB màu đen có nội dung video do camera ghi lại hình ảnh sự việc ngày 08/3/2023.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị xử lý bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, lời khai của bị cáo, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; về các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai của bị hại; thu giữ vật chứng, kết luận giám định; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can.

Đối với sự vắng mặt của bị hại, người đại diện theo pháp luật cho bị hại nhưng có đơn xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08/3/2023, tại tòa nhà HH*, khu đô thị Thanh H, xã Cự Kh, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội. Trần Văn T gặp và đi cùng thang máy số 04 với cháu Nguyễn Ngọc Nhã U sinh ngày 31/5/2013, chưa đủ 16 tuổi. Trong khi thang máy đi lên chỉ có cháu U và T thì T dùng tay phải khoác vào vai, cổ, sờ bóp vào ngực, vú bên trái và dùng mũi áp sát vào trán của cháu U nhưng không nhằm mục đích giao cấu, quan hệ tình dục với cháu U. Sau đó T ra khỏi thang máy, đi về Ph của mình. Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, thì hành vi của Trần Văn T đã phạm vào tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến nhân phẩm, sự phát triển bình thường về giới tính của người dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ, làm mất ổn định an ninh trật tự địa phương gây tâm lý hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo để có tính răn đe và Ph ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo ở chỗ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại và gia đình có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, được quy định điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong vụ án này.

Bị cáo là lao động tự do nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Ngọc Nhã U và gia đình không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: Đối với 01 USB màu đen lưu giữ nội dung video do camera ghi lại hình ảnh sự việc ngày 08/3/2023 là chứng cứ nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: TU bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

2. Về Điều luật áp dụng hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tU án 22/6/2023.

Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã Cự Kh, huyện Thanh O, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Ngọc Nhã U và gia đình không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

4. Về vật chứng, tài sản thu giữ: Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB màu đen có nội dung video do Camera ghi lại hình ảnh sự việc ngày 08/3/2023.

5. Về án phí: Căn cứ nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 22/6/2023. Bị hại, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ