vanban.org

Bản án 44/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 22/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bế Lãng Đ. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Lãng Đ và Lý Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44 /2023/HSST
Ngày: 22/ 11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Lan Phương

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Chính

2. Bà Lưu Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Biển - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa An , tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Hà Hải Yến Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42 /2023/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/ 2023/QĐXXST-HS ngày 09/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:

1. Bế Lãng Đ; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 5 năm 1996 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 3 B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Bế Lãng T (Đã chết); Con bà: Vi Thị A; Sinh năm 1974. Trú tại: xóm 3 B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Bế Thị N. Sinh năm 1992. Nơi cư trú: xóm 3 B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Con: có 02 con đều sinh năm 2023;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29 tháng 8 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt là 03 năm 10 tháng tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hòa An từ ngày 26 tháng 8 năm 2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa

2. Lý Văn V; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1995 tại xã Đứ, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm P, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Lý Văn S (Đã chết); Con bà: Hoàng Thị H. Sinh năm 1974. Trú tại: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo là con cả, có một em cùng mẹ khác cha. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hòa An từ ngày 26 tháng 8 năm 2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Lý Quang H - sinh 20/10/2000 Địa chỉ: Xóm P, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng;

Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Đặng Công Chân - sinh ngày 02/11/1996 Địa chỉ: Tổ 9, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Vắng mặt tại phiên tòa

2. Vi Thị A - sinh ngày 20/12/1974 Địa chỉ: xóm 3 B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 25/8/2023, Bế Lãng Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH biển kiểm soát 11H1-007.06 đến nhà Lý Văn V chơi. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, do không có tiền mua ma túy để sử dụng nên Đ rủ V đi trộm cắp tài sản. V đồng ý. Đ chở V bằng xe mô tô biển kiểm soát 11H1-007.06 đi dọc theo đường Hồ Chí Minh hướng từ xã Đ về thị trấn N với mục đích tìm chỗ nào có sơ hở sẽ lấy trộm tài sản. Khi đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Lý Quang H thuộc xóm P, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì thấy phần cửa chính chỉ khóa phần bên trên, bên dưới cửa không khóa. Quan sát xung quanh không có ai, Đ bật đèn pin từ điện thoại di động của mình đưa cho V để soi. Đ dùng chân đạp ngang một bên cánh rồi dùng tay kéo cánh cửa còn lại tạo khe hở cho V đột nhập vào trong, còn Đ đứng bên ngoài cảnh giới. V vào trong được khoảng 05 phút thì lấy được 06 (sáu) chiếc máy (bao gồm: 01 (một) súng bắn hơi bằng kim loại, nhãn hiệu FUJISU; 01 (một) đầu máy mài bằng kim loại, nhãn hiệu KUSAKI; 01 (một) máy cắt cầm tay bằng kim loại, nhãn hiệu CROWN; 01 (một) máy bắn vít bằng kim loại, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy bắn bu lông bằng kim loại, màu vàng, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy mài bằng kim loại, màu xanh, nhãn hiệu BENCH GRINDER) đưa qua khe hở cho Đ rồi thoát ra ngoài. Đ đặt 02 (hai) máy để ở giá phía sau yên xe, V ngồi sau ôm 04 (bốn) máy còn lại rồi cả hai cùng đi về hướng thành phố C, bán tài sản vừa trộm được tại cửa hàng sửa chữa xe máy của Đặng Công C (thuộc tổ 9, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng được số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Sau đó, V cùng Đ đi mua ma túy với một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực ngã ba đường Km5 - xóm N thuộc phường Đ, thành phố C hết số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) rồi cùng nhau sử dụng hết số ma tuý này. Số tiền còn lại, V chia cho Đ 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng), bản thân V giữ lại 220.000đ (hai trăm hai mươi ngàn đồng). Cả hai đã dùng hết số tiền này vào việc chi tiêu cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐGTS ngày 28/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hòa An kết luận: Tổng giá trị của số tài sản bị mất trộm là 4.936.750đ (bốn triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi đồng).

Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An, Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số: 42/CT-VKSHA ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, bị hại Lý Quang H xác nhận tài sản bị mất trộm vào đêm 25/8/2023 gồm: 01 (một) súng bắn hơi bằng kim loại, nhãn hiệu FUJISU; 01 (một) đầu máy mài bằng kim loại, nhãn hiệu KUSAKI; 01 (một) máy cắt cầm tay bằng kim loại, nhãn hiệu CROWN; 01 (một) máy bắn vít bằng kim loại, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy bắn bu lông bằng kim loại, màu vàng, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy mài bằng kim loại, màu xanh, nhãn hiệu BENCH GRINDER. Trong quá trình điều tra, bị hại đã được thông báo về kết quả định giá tài sản, nhất trí với kết quả định giá của cơ quan chuyên môn. Bị hại đã nhận lại được toàn bộ số tài sản bị mất, do vậy bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan Đặng Công C: Trong ngày 25/8/2023, tại cửa hàng của mình, C có được mua với các bị cáo Đ và V gồm: 01 (một) súng bắn hơi bằng kim loại, nhãn hiệu FUJISU; 01 (một) đầu máy mài bằng kim loại, nhãn hiệu KUSAKI; 01 (một) máy cắt cầm tay bằng kim loại, nhãn hiệu CROWN; 01 (một) máy bắn vít bằng kim loại, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy bắn bu lông bằng kim loại, màu vàng, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy mài bằng kim loại, màu xanh, nhãn hiệu BENCH GRINDER; Tổng số tiền là 800.000,đ (Tám trăm nghìn đồng). Khi các bị cáo số máy móc trên đến bán, C không biết đó là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có. Trong đơn xin xét xử vắng mặt ghi ngày 20/11/2023, Đặng Công C không yêu cầu các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự cho C số tiền 800.000,đ (Tám trăm nghìn đồng). Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan Vi Thị A: Ngày 25/8/2023, bị cáo Đ đã tự ý lấy xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH biển kiểm soát 11H1-007.06 của gia đình để sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội - Việc này gia đình hoàn toàn không biết; Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra công an huyện Hòa An đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH biển kiểm soát 11H1- 007.06 cho chủ sử hữu (bà Vi Thị A) để sử dụng; Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan Vi Thị A không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự. Ngoài ra bà A cũng không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V; Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bế Lãng Đ. Xử phạt bị cáo Bế Lãng Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn V. Xử phạt bị cáo Lý Văn V từ 12 đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Bị hại Lý Quang H, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Vi Thị A đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Công C trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 89; Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu để hóa giá phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại điện thoại bàn phím bấm, màu xanh đen; mặt trước và mặt sau điện thoại có ghi dòng chữ nhãn hiệu “ Masstel”; mãy cũ đã qua sử dụng, vỏ điện thoại có một số vết xước do quá trình sử dụng, chưa kiểm tra chi tiết bên trong (điện thoại không lên nguồn nên không kiểm tra được số IMEI).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo và các bị hại, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp để bị cáo sớm có cơ hội khắc phục sửa chữa lỗi lầm của mình đã gây ra, được trở về đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật xét xử: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp nội dung lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Do muốn có tiền để mua ma tuý về sử dụng nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25 tháng 8 năm 2023, Bế Lãng Đ và Lý Văn V đã thực hiện hành vi trộm cắp 06 (sáu) chiếc máy (bao gồm: 01 (một) súng bắn hơi bằng kim loại, nhãn hiệu FUJISU; 01 (một) đầu máy mài bằng kim loại, nhãn hiệu KUSAKI; 01 (một) máy cắt cầm tay bằng kim loại, nhãn hiệu CROWN; 01 (một) máy bắn vít bằng kim loại, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy bắn bu lông bằng kim loại, màu vàng, nhãn hiệu HUKAN; 01 (một) máy mài bằng kim loại, màu xanh, nhãn hiệu BENCH GRINDER) tại cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Lý Quang H thuộc xóm P, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Tổng giá trị số tài sản trộm cắp là 4.936.750đ (bốn triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm năm mươi đồng). Mục đích trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền để mua ma túy và tiêu xài cá nhân.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, đã lén lút thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đem bán lấy tiền để sử dụng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, vai trò của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo thực hiện thể hiện sự liều lĩnh, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý bức xúc, tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người dân. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc hành vi của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo Đ là người chủ động rủ bị cáo V đi trộm cắp tài sản, còn bị cáo V tự mình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản rồi đem bán tài sản trộm cắp được, mua ma túy về cùng nhau sử dụng và chia nhau chi tiêu.

Bị cáo V với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, mặc dù không có sự bàn bạc nhưng bị cáo luôn hiểu ý và nghe theo bị cáo Đ.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự thống nhất bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, đây là vụ án đồng phạm giản đơn; Khi phát hiện sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu các bị cáo mới ra tay thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi các bị cáo thực hiện mang tính chất đơn lẻ, do không có phân công vai trò của từng bị cáo nên các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm tương ứng theo quy định pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Bế Lãng Đ là người chưa có tiền án, tiền sự, là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu: Ngày 29 tháng 8 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt là 03 năm 10 tháng tù. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt. Ham chơi đua đòi, sử dụng ma túy nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lý Văn V là người nghiện ma túy, nhân thân chưa có tiền án , tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng khi xem xét lượng hình cũng cần có mức án nghiêm khắc thì mới đủ để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong việc bảo vệ tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong việc quản lý tài sản. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử theo quy định của pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo việc phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…” . Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 - Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu để hóa giá phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại điện thoại bàn phím bấm, màu xanh đen; mặt trước và mặt sau điện thoại có ghi dòng chữ nhãn hiệu “ Masstel”; mãy cũ đã qua sử dụng, vỏ điện thoại có một số vết xước do quá trình sử dụng, chưa kiểm tra chi tiết bên trong (điện thoại không lên nguồn nên không kiểm tra được số IMEI). Đây là điện thoại của bị cáo Đ đã sử dụng làm đèn soi sáng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

Xác nhận số tang vật trên đã được chuyển đến kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 02 ngày 13/10/2023.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, về tội danh, hình phạt là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các vấn đề khác: Đối với Đặng Công C là người mua lại toàn bộ số tài sản trộm cắp, quá trình điều tra xác định: khi bán tài sản cho C, V nói đây là tài sản của bố không dùng đến nữa nên đem bán, C không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đặng Công C là có căn cứ.

Đối với số ma tuý mua về sử dụng, Đ và V khai nhận được mua với một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực ngã ba đường Km5 xóm N thuộc phường Đ, thành phố C. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Hoà An đang tiếp tục điều tra, xác minh. Nếu có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý trong vụ án khác.

Đối với 06 (sáu) máy sửa xe, trong quá trình điều tra, ngày 28/9/2023 anh Lý Quang H đã có Đơn xin lại tài sản gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An. Nhận thấy việc trả lại tài sản cho anh H không làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý vụ án nên đã trả lại toàn bộ 06 (sáu) máy trên cho anh H là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11H1-007.06 là chiếc xe Đ dùng để chở V cùng đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định giấy đăng ký xe mang tên mẹ đẻ của Đ là bà Vi Thị A (trú tại: xóm 3 B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng). Khi mang xe đi, Đ không nói với bà A là đi đâu làm gì, đồng thời bà A cũng không biết việc Đ dùng xe vào mục đích trộm cắp tài sản. Do vậy, ngày 29/9/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An trả lại xe cho bà A là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bế Lãng Đ.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn V.

Xử phạt: Bị cáo Bế Lãng Đ - 15 (Mười lăm) tháng tù, Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 26/8/2023.

Bị cáo Lý Văn V -12 (Mười hai)tháng tù, Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 26/8/2023.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc xem xét giải quyết vì không có yêu cầu.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 - Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu để hóa giá phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động, loại điện thoại bàn phím bấm, màu xanh đen; mặt trước và mặt sau điện thoại có ghi dòng chữ nhãn hiệu “ Masstel”; mãy cũ đã qua sử dụng, vỏ điện thoại có một số vết xước do quá trình sử dụng, chưa kiểm tra chi tiết bên trong (điện thoại không lên nguồn nên không kiểm tra được số IMEI).

Xác nhận số tang vật trên đã được chuyển đến kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 02 ngày 13/10/2023.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Bế Lãng Đ và Lý Văn V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng Công C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, kể từ ngày nhận được bản bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -Tòa án tỉnh Cao Bằng;

- Công an tỉnh Cao Bằng;

- Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;

- Viện kiểm sát huyện Hòa An;

(Đã ký)

- Công an huyện Hòa An;

- Thi hành án DS huyện Hòa An;

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Bế Lan Phương

- UBND xã Đ, huyện Hòa An;

- UBND thị trấn N, Hòa An

- Lưu hồ sơ;

- Lưu án văn.

Bế Lan Phương

`

`

Cỡ chữ