vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mách Thanh P phạm tội: “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mách Thanh P 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo P phải chấp hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mách Thanh P tội cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mách Thanh P phạm tội: “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 44/2023/HS-ST
Ngày: 19 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Huỳnh Mộc Khải - Phó Chủ tịch HĐND phường ““B;

- Ông Nguyễn Thanh Sơn - Bí thư Đoàn TNCS HCM phường Núi Sam.

Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại Bưu điện phường Núi Sam thuộc phường Núi Sam, thành phố K; Tòa án xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/HSST ngày 22/3/ 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 04/4/2023 đối với các bị cáo:

1. Mách Thanh P, sinh năm 1990; nơi sinh: K - An Giang; nơi cư trú: Tổ 22, khóm Châu Quới 1, phường ““B, thành phố K, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: không; con ông Mách Mi Sa, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị A (đã chết); vợ là Trần Bảo TN, sinh năm 1993 (đã ly hôn).

TN sự: Ngày 07/7/2022, Công an thành phố K, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành nộp phạt.

TN án: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/10/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Anh T, sinh năm: 1989; nơi sinh: K - An Giang; nơi cư trú: Tổ 03, khóm CL7, phường ““B, thành phố K, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Trần Văn LQ, sinh năm 1951 và bà Lâm Thị F (đã chết); vợ là Nguyễn Thế U (đã chết); bị cáo có 01 con sinh năm 2006;

TN án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/10/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Các bị hại:

- Bà Nguyễn Thảo B1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số 224/73 Tôn Đức Thắng, khóm H, phường VM, thành phố K, tỉnh An Giang; có mặt.

- Bà Lê Thị B2, sinh năm 1954; nơi cư trú: Số 38/22, Tổ 30, khóm CL2, phường ““B, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Em Huỳnh Lê B3, sinh năm 2009; nơi cư trú: Số 947, khóm MT, phường VM, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Lê B3: Ông Lê Văn Hẹn, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số 241, đường Ven Bãi, tổ 3, khóm Mỹ Chánh, phường VM, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Trần Văn LQ, sinh năm 1951; nơi cư trú: Tổ 3, khóm CL7, phường ““B, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Ông Ngô Hoàng NQ, sinh năm 1981; nơi cư trú: 89 Ngô Quyền, khóm 3, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Ông Khúc Thành TY, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 346 Tôn Đức Thắng, Tổ 11, khóm H, phường VM, thành phố K, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng:

- Ông Kiều T1, sinh năm 1990; vắng mặt.

- Bà Võ Thị Hồng T2, sinh năm 1988; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Hữu Sg, sinh năm 1981; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1976; vắng mặt.

- Bà Trần Thị Thanh TN, sinh năm 1986; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ 1: Khoảng 13 giờ ngày 13/7/2022, P đi bộ đến trước nhà của Lê Thị B2, số 38/22, tổ 30, khóm CL2, phường ““B, thành phố K, thấy cửa mở, trên bàn thờ có để 01 điện thoại di động Samsung A30, màu xanh, đang cắm điện sạc, không người trông giữ, P lẻn vào nhà, lấy điện thoại cùng bộ sạc (tổng trị giá 1.730.000 đồng), đem đến cửa hàng điện thoại “Toàn Thịnh”, tổ 11, khóm Hoà Bình, phường VM, thành phố K, bán cho Khúc Thành TY (chủ cửa hàng), được 950.000 đồng, tiêu xài, sử dụng ma túy hết. Cơ quan điều tra đã thu hồi được điện thoại cùng bộ sạc điện thoại trả lại cho B2.

Vụ 2: Khoảng 18 giờ ngày 10/9/2022, được P rủ, Anh T điều khiển xe mô tô Airblade, không rõ biển số (mượn của người khác, không rõ lai lịch) chở P, đến trước cổng khu dân cư “Khang An”, khóm CL5, phường ““B, thành phố K, thấy Huỳnh Lê B3, sinh ngày 10/02/2009, đang đứng sử dụng điện thoại di động Iphone X, có gắn ốp lưng (trị giá 3.500.000 đồng), P kêu Anh T dừng xe, P đi bộ, tiếp cận, giật lấy điện thoại của Linh, tẩu thoát, kiểm tra phát hiện bên trong ốp lưng điện thoại có 250.000 đồng, P cất giấu số tiền này. Riêng Anh T, ngay sau khi P giật được điện thoại của Linh, liền tăng ga bỏ chạy về nhà, khóm CL5, phường ““B, thành phố K, chờ sẵn; sau đó P mang điện thoại vừa giật của Linh đến gặp Anh T, cả hai cùng đi tiêu thụ. Anh T điều khiển xe mô tô biển số 67M3-8120 (mượn của Trần Văn LQ, cha ruột Anh T) chở P, mang điện thoại đến xã Châu P, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, bán cho 01 người nam (không rõ lai lịch), được 1.000.000 đồng, chia nhau mỗi người 500.000 đồng, tiêu xài, mua ma túy sử dụng; đối với số tiền 250.000 đồng trong ốp lưng điện thoại, P tiêu xài riêng, không nói Anh T biết.

Vụ 3: Khoảng 10 giờ ngày 10/10/2022, Anh T điều khiển xe mô tô biển số 67M3-8120 chở P, đến đường Lê Lợi, khóm Châu Quới 3, phường ““B, thành phố K, thấy Nguyễn Thảo B1 điều khiển xe đạp điện, trên rổ xe có để 01 túi xách, Anh T điều khiển xe áp sát, P giật túi xách của B1, tẩu thoát, đến nhà trọ của Kiều T1 (bạn quen biết), khóm Châu Thới 1, phường ““B, thành phố K; Anh T đưa 100.000 đồng nhờ T1 đi mua ma túy về cùng sử dụng. Trong lúc T1 đi mua ma túy, kiểm tra phát hiện trong túi xách của B1 có 146 tờ vé số kiến thiết gồm các đài Đồng Tháp, Cà Mau mở thưởng ngày 10/10/2022, Bạc Liêu mở thưởng ngày 11/10/2022; 01 điện thoại di động Vivo 1906, màu đỏ - đen; 01 đồng hồ đeo tay kiểu nữ, hiệu Francls Cabarle; 01 căn cước công dân và 01 thẻ ATM (tổng trị giá 1.669.000 đồng) P lấy 24 tờ vé số và đồng hồ đeo tay, mượn xe của Anh T chạy đến đường Tân Lộ Kiều Lương và đường Hoàng Diệu, bán cho người dân đi đường (không rõ lai lịch) 05 tờ vé số, được 50.000 đồng, mua ma túy sử dụng riêng, còn lại 19 tờ vé số P cất giấu; túi xách và các tài sản, giấy tờ còn lại, Anh T cất giấu trong phòng ngủ và nhà vệ sinh trong nhà trọ của T1. Khi T1 mua ma túy về, cùng Anh T sử dụng, Anh T lấy 09 tờ vé số đài Đồng Tháp đã giật của B1 cho T1; nghĩ vé số đã dò kết quả không trúng, T1 mang đốt.

Sau khi bị giật tài sản ngày 10/10/2022 Nguyễn Thảo B1 đến Cơ quan Công an trình báo. Qua xác minh, xác định Mách Thanh P và Trần Anh T, mời làm việc, P và Anh T, thừa nhận thực hiện hành vi trên, giao nộp vật chứng. Quá trình điều tra P, T đã khai ra hành vi cướp giật tài sản của Huỳnh Lê B3 (sinh ngày 10/02/2009), mời Linh làm việc thì xác định được P, T có cướp giật tài sản của Linh.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A30, màu xanh; 01 bộ sạc, nhãn hiệu SamSung (đã trao trả cho bị hại Lê Thị B2);

- 132 tờ vé số kiến thiết (gồm 19 tờ đài Đồng Tháp, 03 tờ đài Cà Mau mở thưởng cùng ngày 10/10/2022, 110 tờ đài Bạc Liêu mở thưởng ngày 11/10/2022); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu ViVo 1906, màu đỏ - đen; 01 đồng hồ đeo tay, nhãn hiệu Francls Cabarle; 01 túi xách bằng vải màu xám; 01 thẻ căn cước công dân và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, mang tên Nguyễn Thảo B1 (đã trao trả cho bị hại Nguyễn Thảo B1);

- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Citi, màu đỏ, biển số 67M3-8120; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô số 0084051, tên Ngô Hoàng NQ; 01 áo sơ mi tay dài, sọc xanh xám; 01 áo thun tay ngắn, màu xanh - đỏ, ngực áo có logo hình tròn, trên logo có chữ PARIS; 01 quần lửng màu đen; 01 nón bảo hiểm màu đỏ, kết nón màu đen, trên nón có chữ VIFON, bên trong không có phần xốp bảo vệ; 01 áo thun ngắn tay, màu xanh, trên ngực trái có chữ BULL FLOAT TRIP 2014; 01 quần jean dài, màu xanh; 01 nón bảo hiểm, loại nón lưỡi trai màu trắng sữa, trên nón có chữ Smile; 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn Video Clip ghi lại diễn biến Mách Thanh P lấy trộm điện thoại di động của Lê Thị B2; và cùng Trần Anh T cướp giật tài sản của Nguyễn Thảo B1 (đã bàn giao Cơ quan Thi hành án dân sự).

Căn cứ các Kết luận định giá tài sản số 566 ngày 26/9/2022, số 697 13/10/2022, số 816 ngày 07/11/2022 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố K, ghi nhận:

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung Galaxy A30, màu xanh, trị giá 1.700.000 đồng; 01 bộ sạc, gồm: cốc sạc màu trắng hiệu SamSung, dây sạc màu vàng đồng, trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá 1.730.000 đồng (tài sản của Lê Thị B2).

- 01 điện thoại di động Iphone X, dung lượng 64Gb, màu trắng, trị giá 3.500.000 đồng (tài sản của Huỳnh Lê B3).

- 01 túi xách bằng vải màu xám, kích thước (30 × 20) cm, có dây đeo và 04 ngăn kéo, bị rách 01 đoạn dài 15cm từ phần đầu ngăn kéo đến dây đeo, trị giá 5.000 đồng; 01 điện thoại di động ViVo, model 1906, màu đỏ - đen, dung lượng 32Gb, trị giá 300.000 đồng; 110 tờ vé số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Bạc Liêu, mở thưởng ngày 11/10/2022, trị giá 990.000 đồng; 19 tờ vé số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp, mở thưởng ngày 10/10/2022, trị giá 171.000 đồng; 14 tờ vé số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp, mở thưởng ngày 10/10/2022 (không thu hồi được), trị giá 126.000 đồng; 03 tờ vé số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Cà Mau, mở thưởng ngày 10/10/2022, trị giá 27.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay kiểu nữ, mặt tròn màu bạc, nhãn hiệu Francls Cabarle, dây đeo bằng da màu đen, có khoen cài bằng kim loại màu vàng, trị giá 50.000 đồng. Tổng trị giá 1.669.000 đồng (tài sản của Nguyễn Thảo B1).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định nhập vụ án, Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Mách Thanh P và Trần Anh T.

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSCĐ-HS ngày 22/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K truy tố các bị cáo Mách Thanh P về các tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”; Trần Anh T về tội “Cướp giật tài sải” quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm a, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo P khai, thống nhất hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, không có ý kiến đối với các kết luận định giá tài sản.

- Bị cáo T khai, thống nhất hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, không có ý kiến đối với các kết luận định giá tài sản.

- Bị hại Nguyễn Thảo B1 khai: Bị cáo P, T đã cướp giật túi xách của bị hại bên trong có vé số, đồng hồ đeo tay, điện thoại. Đã nhận lại toàn bộ, chỉ mất 14 tờ vé số; gia đình bị cáo T đã bồi thường số tiền 500.000 đồng, nên xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Mách Thanh P về các tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Trần Anh T về tội tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 và điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Các bị cáo P, T đã cùng có hành vi nhiều lần cướp giật tài sản của Huỳnh Lê Gia Sinh (sinh ngày 10/02/2009; dưới 16 tuổi); dùng xe mô tô là thủ đoạn nguy hiểm, cướp giật tài sản của Nguyễn Thảo B1, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 5.419.000 đồng; trong đó, P chịu trách nhiệm toàn bộ tổng giá trị tài sản 5.419.000 đồng, Anh T chịu trách nhiệm với tổng giá trị tài sản là 5.169.000 đồng, ít hơn P 250.000 đồng.

Riêng, P đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xóa, tiếp tục trộm cắp tài sản của Lê Thị B2, trị giá 1.730.000 đồng.

Các bị cáo P, T thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Ngườ i phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Tự thú”, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; cùng chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” (đối với hành vi “Cướp giật tài sản”), quy định tại các điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm a khoản 1 Điều 173, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mách Thanh P từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và xử phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy các trang phục phạm tội đã qua sử dụng, không còn giá trị bao gồm: 01 (một) áo sơ mi tay dài, sọc xanh xám; 01 (một) áo thun tay ngắn, màu xanh – đỏ, ngực áo có logo hình tròn, trên logo có chữ PARIS; 01 (một) quần lững màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu đỏ, kết nón màu đen, trên nón có chữ VIFON, bên trong không có phần xốp bảo vệ; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh, trên ngực trái có chữ BULL FLOAT TRIP 2014; 01 (một) quần jean dài, màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm loại nón lưỡi trai màu trắng sữa, trên nón có chữ Smile.

- Giao trả cho Trần Ngọc LQ 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu CITI, màu đỏ, biển số 67M3-8120, số máy VTMJL152FMH003523, số khung VTMWCH023CK004486, đã qua sử dụng và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký môtô, xe máy số 0084051, tên chủ xe Ngô Hoàng NQ, địa chỉ: Khóm 4, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (Trần Ngọc LQ mua lại nhưng chưa sang tên đổi chủ).

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn Video Clip ghi lại diễn biến Mách Thanh P lấy trộm điện thoại di động của Lê Thị B2; và cùng Trần Anh T cướp giật tài sản của Nguyễn Thảo B1.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại B2, B1, Linh không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Riêng ông Khúc Thành TY có yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 950.000 đồng là phù hợp nên buộc bị cáo P bồi thường cho ông TY.

Đối với: Kiều T1 không biết tài sản Mách Thanh P và Trần Anh T cất giấu tại nơi ở của T1 là do cướp giật mà có; Trần Văn LQ cho Trần Anh T mượn xe mô tô, không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội; Khúc Thành TY mua tài sản do Mách Thanh P đem bán, không biết tài sản do trộm cắp mà có; tuy không xử lý, nhưng cần giáo dục công khai tại phiên toà.

Trường hợp: Người khách (không rõ lai lịch) cho Trần Anh T mượn xe mô tô Airblade (không rõ biển số), đi cướp giật tài sản; Kiều T1 khai mua ma tuý của Trần Thị Thanh TN, ngoài lời khai của T1, không còn chứng cứ khác, nên chưa đủ căn cứ quy kết trách nhiệm đối với TN; Cơ quan điều tra lập hồ sơ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo luật định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị hại B2, Linh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án LQ, TY, NQ và những người làm chứng vắng mặt. Xét những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung,

Hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

- Ngày 13/07/2022 bị cáo Mách Thanh P đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung A30, màu xanh và bộ sạc điện thoại trị giá 1.730.000 đồng của Lê Thị B2; mục đích để mua ma túy sử dụng. P đã bị Công an thành phố K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 07/7/2022 chưa nộp phạt nay lại vi phạm.

Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo P đã rủ bị cáo T thực hiện nhiều lần hành vi cướp giật tài sản của các bị hại Huỳnh Lê B3 (sinh năm 2009, dưới 16 tuổi) vào ngày 10/9/2022 và Nguyễn Thảo B1 vào ngày 10/10/2022, có tổng trị giá 5.419.000 đồng; trong đó P chịu trách nhiệm tổng tài sản cướp giật là 5.419.000 đồng. T chịu trách nhiệm tài sản cướp giật 5.169.000 đồng (ít hơn 250.000 đồng).

Hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội cướp giật tài sản. Các bị cáo đều trên 18 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Tại thời điểm các bị cáo thực hiện cướp giật điện thoại của bị hại – cháu Huỳnh Lê B3 khi cháu mới 13 tuổi 07 tháng. Đồng thời khi thực hiện hành vi cướp giật giỏ xách của bị hại Nguyễn Thảo B1 thì các bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 67M3-8120 còn Thảo B1 điều khiển xe đạp điện nên nguy hiểm cho bị cáo, bị hại và những người khác xung quanh.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K truy tố đối với các bị cáo về tội "Cướp giật tài sản" với tình tiết định khung cấu thành tăng nặng "Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi" và "Dùng thủ đoạn nguy hiểm" theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

T sản do con người tích lũy lao động mà có được, trong đó không thiếu cả mồ hôi, nước mắt mà họ đã đánh đổi trong quá trình đó. Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản, bất khả xâm phạm của con người, được Nhà nước ta công nhận và bảo vệ bằng pháp luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo nhận thức sâu sắc hơn về hành vi đã thực hiện, đồng thời phát huy tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tính chất của vụ án cũng như vai trò của từng bị cáo thấy rằng:

Bị cáo P, bị cáo T cùng thực hiện hành vi cướp giật tài sản được xem là đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, các bị cáo cùng nhau thống nhất ý chí để hành động, không có cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Tuy nhiên cần phân hóa vai trò để xem xét, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt. Bị cáo P là người chủ động, rủ rê bị cáo T thực hiện 02 lần cướp giật tài sản của bị hại Linh và B1 nên P phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn T.

Riêng P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại B2 trong khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính nên P phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi trộm cắp tài sản này.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo P, T thực hiện 02 lần cướp giật tài sản của bị hại Huỳnh Lê B3 vào ngày 10/9/2022 và cướp giật giỏ xách của bị hại Nguyễn Thảo B1 vào ngày 10/10/2022 nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự thú khai nhận về hành vi cướp giật điện thoại của bị hại Linh; bị cáo T bồi thường thiệt hại cho Linh số tiền 2.500.000 đồng và B1 500.000 đồng; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác các bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Khúc Thành TY có yêu cầu bị cáo P bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm với số tiền 950.000 đồng do bị cáo P trộm điện thoại bán cho ông mà ông không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Xét yêu cầu của ông TY phù hợp với lời khai của bị cáo P và phù hợp với vật chứng đã được thu hồi trả lại cho bị hại B2 nên yêu cầu của ông TY là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự. Do đó buộc bị cáo P trả cho ông TY số tiền 950.000 đồng.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A30, màu xanh; 01 bộ sạc, nhãn hiệu SamSung. Đã trao trả cho bà B2 xong nên không xem xét lại.

- 132 tờ vé số kiến thiết (gồm 19 tờ đài Đồng Tháp, 03 tờ đài Cà Mau mở thưởng cùng ngày 10/10/2022, 110 tờ đài Bạc Liêu mở thưởng ngày 11/10/2022); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu ViVo 1906, màu đỏ - đen; 01 đồng hồ đeo tay, nhãn hiệu Francls Cabarle; 01 túi xách bằng vải màu xám; 01 thẻ căn cước công dân và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, mang tên Nguyễn Thảo B1; đã trao trả cho Thả B1 xong nên không xem xét lại.

- Đối với xe mô tô, nhãn hiệu CITI, màu đỏ, biển số 67M3-8120, số máy VTMJL152FMH003523, số khung VTMWCH023CK004486, (đã qua sử dụng) và giấy chứng nhận đăng ký môtô, xe máy số 0084051, tên chủ xe Ngô Hoàng NQ. Quá trình điều tra ông NQ khai mua chiếc xe nêu trên vào năm 2007 và bán năm 2010 thông qua cò chưa làm thủ tục sang tên. Ông LQ khai, ngày 24/9/2022 ông mua chiếc xe trên tại tiệm cầm đồ Út Tỉ với số tiền 5.100.000 đồng, mục đích để chạy xe ôm chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 10/10/2022 con ông là Trần Anh T lấy xe của ông làm gì ông không biết. Ông yêu cầu được nhận lại chiếc xe để chạy xe ôm kiếm sống. Xét giao trả xe và giấy xe mô tô cho ông LQ. Quá trình ông LQ, quản lý, sử dụng nếu phát sinh tranh chấp với bên thứ 3 thì sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng

dân sự.

- Đối với trang phục của các bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; đã qua sử dụng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) áo sơ mi tay dài, sọc xanh xám; 01 (một) áo thun tay ngắn, màu xanh – đỏ, ngực áo có logo hình tròn, trên logo có chữ PARIS; 01 (một) quần lững màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu đỏ, kết nón màu đen, trên nón có chữ VIFON, bên trong không có phần xốp bảo vệ; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh, trên ngực trái có chữ BULL FLOAT TRIP 2014; 01 (một) quần jean dài, màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm loại nón lưỡi trai màu trắng sữa, trên nón có chữ Smile.

- 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn Video Clip ghi lại diễn biến Mách Thanh P lấy trộm điện thoại di động của Lê Thị B2; và cùng Trần Anh T cướp giật tài sản của Nguyễn Thảo B1 được tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Các vấn đề khác:

Đối với: Kiều T1 không biết tài sản Mách Thanh P và Trần Anh T cất giấu tại nơi ở của T1 là do cướp giật mà có; Trần Văn LQ cho Trần Anh T mượn xe mô tô, không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội; Khúc Thanh TY mua tài sản do Mách Thanh P đem bán, không biết tài sản do trộm cắp mà có; tuy không xử lý, nhưng cần giáo dục công khai tại phiên toà theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Trường hợp: Người khách (không rõ lai lịch) cho Trần Anh T mượn xe mô tô Airblade (không rõ biển số), đi cướp giật tài sản; Kiều T1 khai mua ma tuý của Trần Thị Thanh TN, ngoài lời khai của T1, không còn chứng cứ khác, nên chưa đủ căn cứ quy kết trách nhiệm đối với TN; Cơ quan điều tra lập hồ sơ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật là

phù hợp.

Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qaun đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm a khoản 1 Điều 173, các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017;

Tuyên bố bị cáo Mách Thanh P phạm tội: “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mách Thanh P 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo P phải chấp hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo P được tính kể từ ngày 10/10/2022.

2. Căn cứ điểm d, g khoản 2 Điều 171; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Anh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo T được tính kể từ ngày 10/10/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Mách Thanh P trả cho ông Khúc Thành TY số tiền 950.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Giao trả cho ông Trần Văn LQ: 01 (một) xe mô tô, màu đỏ, biển số 67M3-8120,

số

máy

VTMJL152FMH003523,

số

khung VTMWCH023CK004486, phần lốc máy nhãn hiệu CITI, Honda, phần áo xe dán nhãn hiệu Wave S 110, đã qua sử dụng (theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu JIULONG); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 0084051, mang tên chủ xe Ngô Hoàng NQ.

Quá trình ông LQ, quản lý, sử dụng nếu phát sinh tranh chấp với bên thứ 3 thì sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi tay dài, sọc xanh xám; 01 (một) áo thun tay ngắn, màu xanh – đỏ, ngực áo có logo hình tròn, trên logo có chữ PARIS; 01 (một) quần lững màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm loại nón lưỡi trai màu trắng sữa, trên nón có chữ Smile; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh, trên ngực trái có chữ BULL FLOAT TRIP 2014; 01 (một) quần jean dài, màu xanh; 01 (một) nón bảo hiểm màu đỏ, kết nón màu đen, trên nón có chữ VIFON, bên trong không có phần xốp bảo vệ. Tất cả đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày ngày 18/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố K với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố K.

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD lưu trữ đoạn Video Clip ghi lại diễn biến Mách Thanh P lấy trộm điện thoại di động của Lê Thị B2; và cùng Trần Anh T cướp giật tài sản của Nguyễn Thảo B1.

5. Về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 135, 136, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Mách Thanh P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Trần Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bà B1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ