- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H (Q) phạm tội: «Trộm cắp tài sản». - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H (Q) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 28/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phước Mãng.
Bà Nguyễn Thị Kim Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Việt Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Thanh H (tên thường gọi là Q); Sinh ngày: 13/6/1996; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 34J đường LCH, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ (bị cáo khai cha tên Võ Văn L) và bà: Trần Thị X; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/3/2023.
Tiền sự: Ngày 05/01/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 01/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 11/02/2022 (Giấy chứng nhận số: 394/CN-CSCN ngày 15/01/2022 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 1).
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Bà Ngô Thị Mỹ D; Sinh ngày: 18/6/2001; Thường trú: Thôn ĐX, xã HT, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ ở: 106A đường TQ, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Đỗ Tường P; Sinh năm: 1960; Trú tại: 106A đường TQ, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Các ông Bùi Văn Quang Lợi, Ngô Văn Khánh, Phạm Gia Huy, Nguyễn Minh Quân, Phan Việt Hùng - Là cán bộ, chiến sĩ Hỗ trợ tư pháp thuộc nhà tạm giữ Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
(đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/3/2023, D1 (không rõ lai lịch) gọi điện thoại rủ Trần Thanh H đi tìm tài sản lấy trộm. Sau khi H đồng ý, D1 điều khiển xe gắn máy (kiểu dáng xe Dream màu nâu, không rõ biển số) đến công viên đường số 26, Phường 11, Quận 6 chở H lưu thông qua nhiều tuyến đường tìm tài sản. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi chạy ngang hẻm 205 đường PVC, Phường C, Quận F, D1 phát hiện có 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-đỏ-trắng, biển số 59M1-931.47 của bà Ngô Thị Mỹ D đang dựng trong hẻm (bên hông nhà số 203 đường PVC) mà không có người trông coi nên chỉ cho H thấy rồi điều khiển xe chạy vào hẻm 205 để H đi bộ đến dùng bộ đoản của D1 đưa trước đó bẻ ổ khóa công tắc xe. Sau khi bẻ khóa xe xong, H nổ máy xe nhưng không được. Sợ bị phát hiện, D1 chở H chạy ra đường PPT, rồi cho xe rẽ vào đường MXT để quay lại hẻm 205 đường PVC. Sau đó, D1 dừng xe ở đầu hẻm 205 cảnh giới, còn H đi đến chỗ để chiếc xe của bà D, mở mặt nạ xe đấu nối dây điện. Xong, H nổ máy xe tẩu thoát ra đường PVC. Lúc này, bà D phát hiện tri hô và đuổi theo nắm phía sau xe kéo lại làm H bị mất thăng bằng để xe va chạm với người đi đường té ngã. H liền bỏ xe chạy bộ đến đầu hẻm 221 đường PVC thì bị những người xung quanh nghe tiếng tri hô của bà D đuổi theo bắt giữ giao Công an Phường C, Quận F giải quyết. Riêng D1 điều khiển xe Dream chạy thoát.
Tại Công an Phường C, Quận F cũng như tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Trần Thanh H đều khai nhận thực hiện hành vi nêu trên.
Bị hại và người làm chứng khai cũng tương tự.
Theo Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Trạm y tế Phường C, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thanh H D1 tính với Methamphetamine, MDMA.
Tại các Kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 3 năm 2023 và số: 34/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 3 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của chiếc xe gắn máy mà Trần Thanh H chiếm đoạt tại thời điểm ngày 16/3/2023 như sau:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-đỏ-trắng, biển số 59M1-931.47, số khung RLCUG0610GY227423, số máy G3D4E240327 (tình trạng sử dụng còn khoảng 60%) là: 23.000.000 đồng.
- 01 ổ khóa công tắc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-đỏ-trắng, biển số 59M1-931.47 (tình trạng sử dụng còn khoảng 60%) là: 490.000 đồng.
Ngày 03 tháng 4 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 quyết định trưng cầu giám định 01 ổ khóa công tắc điện của xe mô tô (ký hiệu A) với 01 thanh kim loại dài 7,5cm, một đầu dẹp, một đầu lục giác (ký hiệu M1) và 01 thanh kim loại hình chữ L có kích thước 10,5cm x 4cm (ký hiệu M2) để xác định:
- Ổ khóa công tắc điện của xe mô tô có bị cạy phá hay không ?.
- Nếu ổ khóa bị cạy phá có phải là do hai thanh kim loại trên gây ra không ?. Ổ khóa còn sử dụng được không ?
Và tại Kết luận giám định số: 3254/KL-KTHS ngày 07 tháng 6 năm 2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận:
- Ổ khóa gửi giám định (ký hiệu A) đã bị cạy phá, không xác định được vật gây ra dấu vết cạy phá.
- Không đủ cơ sở kết luận 02 thanh kim loại (ký hiệu M1, M2) có gây ra dấu vết cạy phá ở bên trong ổ khóa gửi giám định (ký hiệu A) hay không.
- Không xác định được ổ khóa gửi giám định (ký hiệu A) còn sử dụng được hay không.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 36/QĐ-ĐCSHS); khởi tố bị can đối với Trần Thanh H về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 34/QĐ-ĐCSHS).
Đối với người tên D1, hiện chưa xác định được lai lịch. Ngày 02/6/2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã ra thông báo truy tìm (Thông báo số: 3194/TB-ĐCSHS). Khi nào bắt được đối tượng này điều tra làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKS-Q6 ngày 21 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: bị cáo Trần Thanh H khai nhận chính bị cáo đã cùng một người tên D1, thực hiện hành vi lấy trộm 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-đỏ-trắng (bị cáo không nhớ biển số) dựng bên hông nhà số 203 đường PVC, Phường C, Quận F vào trưa ngày 16/3/2023 và bị bắt quả tang như nội dung bản cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thanh H như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Trần Thanh H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
Về bồi thường thiệt hại: Không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA1010 màu đen, số Imei: 355816097029425.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 cây đoản bằng kim loại dài 7,5cm (một đầu dẹp, một đầu lục giác); 01 thanh kim loại hình chữ L dài 10cm, có chữ số CHROME VANADIUM 8mm (được quấn băng keo, một đầu bên ngoài hình tròn, bên trong hình lục giác); 01 áo thun ngắn tay, cổ tròn, màu hồng; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu vàng; 01 sim điện thoại số 8401200252323534.
Đối với 01 USB màu xanh (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Trần Thanh H lấy trộm xe gắn máy bên hông nhà số 203 đường PVC, Phường C, Quận F vào trưa ngày 16/3/2023) do bà Ngô Thị Mỹ D cung cấp, đã được niêm phong, bên ngoài có hai hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL163), là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.
Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, bị cáo Trần Thanh H nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai của bị cáo Trần Thanh H tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera của Công an Quận 6; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 3254/KL-KTHS ngày 07/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; Kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 20/3/2023 và số: 34/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6; lời khai của bị hại Ngô Thị Mỹ D và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thanh H đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Với ý định phạm tội có từ trước, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/3/2023 tại hẻm 205 đường PVC (bên hông nhà số 203 đường PVC), Phường C, Quận F, bị cáo Trần Thanh H đã cùng với một người tên D1, lén lút chiếm đoạt của bà Ngô Thị Mỹ D 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59M1-931.47 (số khung RLCUG0610GY227423, số máy G3D4E240327) trị giá 23.000.000 đồng. Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo thì D1 là người chủ động rủ rê, ngoài việc chuẩn bị công cụ, phương tiện (xe gắn máy, bộ đoản dùng bẻ ổ khóa công tắc xe), còn là người phát hiện chiếc xe của bà D dựng bên hông nhà số 203 đường PVC và giúp sức tích cực cho bị cáo trong việc chiếm đoạt chiếc xe này. Bị cáo là người trực tiếp dùng bộ đoản bẻ ổ khóa công tắc, đấu nối dây điện để chiếm đoạt chiếc xe của bà D. Tuy nhiên, hiện D1 đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai của người này để làm rõ tính tổ chức, làm rõ vai trò đồng phạm, cũng như sự câu kết chặt chẽ giữa bị cáo và D1 khi thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo Trần Thanh H không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an xã hội.
Bị cáo Trần Thanh H là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, mặc cho hậu quả xảy ra như thế nào, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thanh H đã hoàn thành, việc bị phát hiện bắt giữ là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo. Mặt khác, ngày 05/01/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 6 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình tùy theo tính chất, mức độ, vai trò tham gia của bị cáo theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Trần Thanh H còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Việc bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị hại Ngô Thị Mỹ D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đỗ Tường P (chủ sở hữu chiếc xe gắn máy biển số 59M1-931.47) đều vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra các ông, bà này không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường (theo hai Biên bản ghi lời khai cùng ngày 30/3/2023 của Công an Quận 6 - BL63, 71), do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Việc xử lý vật chứng:
Phương tiện mà bị cáo Trần Thanh H khai sử dụng liên lạc với D1 để rủ nhau đi lấy trộm tài sản ngày 16/3/2023 là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA1010 màu đen, số Imei: 355816097029425, Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 cây đoản bằng kim loại dài 7,5cm (một đầu dẹp, một đầu lục giác); 01 thanh kim loại hình chữ L dài 10cm, có chữ số CHROME VANADIUM 8mm (được quấn băng keo, một đầu bên ngoài hình tròn, bên trong hình lục giác); 01 áo thun ngắn tay, cổ tròn, màu hồng; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu vàng (bị cáo Trần Thanh H sử dụng lúc lấy trộm tài sản); 01 sim điện thoại số 8401200252323534 (trong chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen), là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 13/PNK ngày 07 tháng 02 năm 2023 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 44/QĐ-VKS-Q6 ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 6 năm 2023 giữa Công an Quận 6 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6)
Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-đỏ-trắng, biển số 59M1-931.47, số khung RLCUG0610GY227423, số máy G3D4E240327 mà bị cáo Trần Thanh H chiếm đoạt của bà Ngô Thị Mỹ D, Cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Tường P (cha của bà D), nên đã xử lý trả lại cho ông P (theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 05/4/2023 - BL120), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với 01 USB màu xanh (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh Trần Thanh H lấy trộm xe gắn máy tại bên hông nhà số 203 đường PVC, Phường C, Quận F vào trưa ngày 16/3/2023) do bà Ngô Thị Mỹ D cung cấp, đã được niêm phong, bên ngoài có hai hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL163), là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với người tên D1, ngày 02/6/2023 Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã ra Thông báo truy tìm và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị lúc nào bắt được đối tượng này điều tra làm rõ xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Bị cáo Trần Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H (Q) phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Thanh H (Q) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2023.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA1010 màu đen, số Imei: 355816097029425.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây đoản bằng kim loại dài 7,5cm (một đầu dẹp, một đầu lục giác); 01 (một) thanh kim loại hình chữ L dài 10cm, có chữ số CHROME VANADIUM 8mm (được quấn băng keo, một đầu bên ngoài hình tròn, bên trong hình lục giác); 01 (một) áo thun ngắn tay, cổ tròn, màu hồng; 01 (một) quần Jean dài màu xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu vàng; 01 (một) sim điện thoại số 8401200252323534.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 6 năm 2023 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo Trần Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Ngô Thị Mỹ D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 6; - Công an Quận 6; - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06); - Chi cục THADS Quận 6; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ đến vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |