vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 20/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Điều luật áp dụng:

[2] Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS-ST
Ngày: 20/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Công Ích và ông Phùng Văn Thị

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Khắc bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm là trụ Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2023/HS-ST ngày 29/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến L - Sinh ngày 10/3/1985 tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu 2, xã N, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: công giáo;

Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; Bị cáo có 01 con – sinh năm 2013;

Tiền sự: không; Tiền án: 01 - Tại Bản án số 13/2020/HSST ngày 27/4/2020 Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Tiến L 09 tháng tù về tội ” Tội trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản là 3.800.000đ. L chưa thì hành xong nghĩa vụ án phí. Đối với phần bồi thường dân sự, người bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án nên Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba chưa thụ lý, giải quyết.

Nhân thân: 03 + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 139/QĐ-XPHC ngày 24/10/2012 của Công an thành phố B xử phạt Nguyễn Tiến L 1.500.000đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. L đã thi hành xong quyết định xử phạt ngày 25/10/2012.

+ Tại bản án số 01/2009/HSST ngày 30/10/2009, Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản là 22.337.000đ. L chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 06/02/2011; Nộp án phí ngày 10/3/2010; Phần bồi thường dân sự qua xác minh người bị hại đến nay không đề nghị bị cáo pH bồi thường.

+ Bản án số 16/2023/HSST ngày 15/5/2023 Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Tiến L 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản là 490.000đ. L chưa chấp hành bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 15/6/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại:

1- Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1958

Địa chỉ: Khu 5, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

2- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1983

Địa chỉ: Khu 9, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Ông Hà Hữu T1, sinh năm 1968

Địa chỉ: Khu Đ 1, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)

2- Anh Đỗ Quốc P, sinh năm 1983

Địa chỉ: Khu 2, thị trấn T, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

Hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Phú Thọ (cơ sở 1 tại xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

+ Những người làm chứng:

1- Anh Chu Mạnh H, sinh năm 1983

Địa chỉ: Khu 3, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

2- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1962

Địa chỉ: Khu 2, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp nhận Phiếu chuyển nguồn tin tố giác về tội phạm do Công an xã S và Công an xã N chuyển đến. Nội dung chị Nguyễn Thị N – sinh năm 1985, trú tại khu 9, xã N và ông Đỗ Văn T – sinh năm 1958, trú tại khu 5, xã S, huyện T trình báo bị kẻ gian đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản là 01 bình gas loại 12,5kg và 01 con chó, loại chó ta nặng khoảng 13kg.

Quá trình rà soát Camera xác định người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Nguyễn Tiến L – sinh năm 1985, trú tại khu 2, xã N và Đỗ Quốc P – sinh năm 1983, trú tại khu 2, thị trấn T, huyện T. Việc trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 09h00 ngày 26/3/2023, Nguyễn Tiến L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel SYM BKS: 19K1 – 8958 đi theo đường tỉnh 318 qua UBND xã Đ, huyện T xuống phường T, thị xã T; đi đến ngã ba gần cổng trường Cao đẳng công nghiệp quốc phòng thuộc phường T thì L rẽ pH đi về xã S với mục đích đi xem có nhà dân nào sơ hở thì đột nhập vào trộm cắp tài sản. Khi đến khu 5, xã S phát hiện thấy nhà ở của gia đình ông Đỗ Văn T cửa nhà đóng kín, L điều khiển xe đi vào cổng. L dừng xe cách sân khoảng 5m trước tấm phên rào bằng tre chắn ngang cổng rồi đi bộ vào trong sân. Tay pH cầm chiếc điện thoại di động giả vờ như đang liên lạc mục đích nếu có gặp ai thì như đang gọi điện cho chủ nhà quen biết và đi xung quanh nhà tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến đầu nhà phía bên pH theo hướng nhà phát hiện một con chó, giống chó ta, lông màu đen, nặng khoảng 10kg đang bị xích vào cột hiên nhà. Thấy có người lạ con chó sủa, sợ có người phát hiện nên L bỏ đi ra cổng điều khiển xe mô tô đi theo đường bể tông cách nhà ông T khoảng 2km. Thấy không có người chú ý nên L điều khiển xe quay lại nhà ông T, để xe mô tô ở cổng và quay đầu xe hướng ra đường bê tông. Sau đó L tìm được tại nhà ông T 01 chiếc bao tải loại bao xác rắn rồi đi đến chỗ xích con chó, cầm dây xích nhấc con chó lên cao, dùng tay pH túm vào vùng gáy chó thả vào trong bao tải. Sau đó L vặn xoay tròn miệng bao tải sát thân con chó để chó không giãy được, rồi ôm bao tải đựng chó ra để lên đèo hàng kim loại ở giữa xe mô tô, nổ máy điều khiển đi ra xã V, thị xã P tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến khu L, xã H, thị xã P phát hiện bên đường có quán bán thịt chó của anh Hà Quang M - sinh năm 2000, L dừng xe vào quán hỏi bán chó cho anh M, anh M đồng ý và bảo L đem bao tải đựng chó lên cân được 10kg. Nhưng sau khi kiểm tra thấy con chó đã già nên anh M không mua. Lúc này tại quán của anh M có anh Chu Mạnh H - sinh năm 1987, trú tại khu 3, xã T, huyện T đang ngồi ăn tại quán, thấy anh M không mua con chó nên anh H bảo L bán cho mình, L đồng ý và thoả thuận mua bán con chó với giá 800.000₫. Sau khi bán được con chó, L điều khiển xe mô tô đến ngã tư 27/7, thuộc phường H, thị xã P mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma tuý với giá 400.000₫ đem về sử dụng cho bản thân, số tiền còn lại L đã chi tiêu cá nhân hết. Đối với con chó mua được sau hai ngày anh H đã mổ thịt ǎn.

Vụ thứ 2: Khoảng 14h ngày 06/4/2023, khi L đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Đỗ Quốc P – sinh năm 1983, trú tại khu 2, thị trấn Thanh Ba rủ cùng đi mua ma tuý về sử dụng, L đồng ý. Một lúc sau P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS: 22H9 – 8818 đến nhà L. Do không đủ tiền mua ma tuý nên hai người rủ nhau đi qua các xã N, Q, Đ, V xem có nhà dân nào sơ hở thì đột nhập vào trộm cắp tài sản, nhưng không phát hiện được nhà nào. Đến khoảng gần 17h45 cùng ngày, khi L điều khiển xe đi đến khu 9, xã N phát hiện gia đình chị Nguyễn Thị N nhà tắt điện, cổng có hai cánh bằng kim loại không đóng nên hai người dừng xe ở cổng nhà chị N (lúc này trời đã nhá nhem tối). P đúng ở ngoài cổng cảnh giới, còn L đi vào sân nhà chị N. L giả vờ gọi: “Cô ơi, chú ơi” để xem có ai không nhưng không thấy ai trả lời. Phát hiện thấy cửa bếp khép nhưng không khoá, L đi vào bếp thấy dưới gầm kệ bếp có 01 bình Gas màu xanh loại 12,5kg. L nhấc bình Gas ra vặn khoá an toàn và tháo khớp nối đến bếp Gas rồi bê bình Gas ra để lên yên xe mô tô. Sau đó L điều khiển xe, còn P ngồi ôm giữ bình Gas đi qua xã Đ ra thị xã Phú Thọ tìm nơi tiêu thụ. Đến khoảng 18h30 cùng ngày, khi qua đoạn đường sắt thuộc khu T, phường T phát hiện phía bên trái đường có cửa hàng thu mua phế liệu của ông Hà H T1 – SN 1968, trú tại khu Đ 1, xã Đ đang thuê địa điểm kinh doanh tại đó. L và P bê bình Gas vào hỏi ông T1: “Chú có mua bình Gas không, cháu vừa đi công trình về không dùng nữa nên bán”. Ông T1 đồng ý mua và bảo đem cân bình Gas được 20kg. Ông T1 trả giá 300.000đ, L và P đồng ý bán. Sau khi có tiền bán bình Gas, hai người đi ra ngã tư 27/7, P dùng tiền bán bình Gas và số tiền có sẵn mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma tuý với giá 400.000d, đem về khu vực dồi cây thuộc xã Đ chia nhau mỗi người sử dụng 01 gói.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Đỗ Quốc P 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS: 22H9 – 8818 đã qua sử dụng. Anh Hà Hữu T1 tự nguyện giao nộp 01 bình Gas, màu xanh, hình trụ đường kính 30cm, cao 60cm, trọng lượng 20kg, mặt bình Gas có in dòng chữ “Sellan Gas” đã mua trước đó của L và P.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 24/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thanh Ba xác định trị giá chiếc bình Gas bị chiếm đoạt là 620.000 đ. Tại Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 01/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thanh Ba xác định trị giá con chó bị chiếm đoạt là 800.000 ₫

Quá trình xác minh xác định Nguyễn Tiến L có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản; còn đối với Đỗ Quốc P không có tiền án, tiền sự. Vì vậy ngày 10/6/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Ba ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tiến L về tội Trộm cắp tài sản.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Tiến L và Đỗ Quốc P khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Về động cơ, mục đích, P pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm: Do bản thân nghiện chất ma tuý từ năm 2009, thời gian gần đây L mỗi ngày sử dụng ma tuý 02 lần với số tiền 400.000đ, nhưng không có việc làm, không có thu nhập, nên L thường xuyên đi đến các xã trên địa bàn huyện T xem có nhà dân nào sơ hở thì đột nhập trộm cắp tài sản bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến L trình bày thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên, không có lời bào chữa nào khác.

Bản cáo trạng số 39/CT-VKSCK ngày 28/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Tiến L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L từ 15 tháng đến 18 tháng tù tổng hợp hình phạt 09 tháng tù chưa chấp hành của bản án số 16/2023/HSST ngày 15/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo pH chấp hành hình phạt của hai bản án là từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/6/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47, Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, Khoản 1 Điều 589, Điều 357, 468 Bộ luật dân sự

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS: 22H9 – 8818 đã thu giữ của Đỗ Quốc P.

Xác nhận ngày 10/6/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị N 01 chiếc bình ga là hợp pháp.

Buộc bị cáo pH có nghĩa vụ cho ông Đỗ Văn T số tiền trị giá 01 con chó là 800.000đ.

Xác nhận sự tự nguyện của ông Hà Hữu T1 không yêu cầu bị cáo pH bồi thường số tiền đã mua bình ga là 300.000đ

Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

+ Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận:

Ngày 26/3/2023, tại khu 5, xã S, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; L đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 con chó của gia đình ông Đỗ Văn T trị giá 800.000đ. Ngày 06/4/2023, tại khu 9, xã N, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, L cùng Đỗ Quốc P thực hiện hành vi trộm cắp 01 bình ga của gia đình chị Nguyễn Thị N trị giá 620.00đ. Tài sản mà bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000đ. Tuy nhiên, bản thân Nguyễn Tiến L đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai mà bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa P. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe nhưng không chịu lao động làm ăn lương thiện và rèn luyện bản thân. Vì vậy vụ án cần pH đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án nhưng đó là tình tiết định tội do tài sản bị cáo trộm cắp tài sản giá trị dưới 2.000.000đ; Bị cáo pH chịu 01 tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: pH áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội.

+ Về hình phạt bổ sung: Tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5000.000đ đến 50.000.000đ”. Xét thấy, bị cáo đều không có tài sản gì, cũng không có chức vụ nghề nghiệp nào ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS: 22H9 – 8818 thu giữ của Đỗ Quốc P: anh P và bị cáo L đã sử dụng chiếc xe trên làm P tiện phạm tội, xét tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc bình ga đã thu giữ từ ông Hà Hữu T1: đây là tài sản của chị Nguyễn Thị N do bị cáo L và Đỗ Quốc P trộm cắp. Ngày 10/6/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị N là phù hợp cần được xác nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel SYM Biển kiểm soát 19K1 – 8958 L đã sử dụng làm P tiện đi trộm cắp tài sản. Qua xác minh xác định chiếc xe trên của bà Nguyễn Thị Quý (mẹ đẻ của L). Bà Quý không biết L sử dụng chiếc xe thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe trên bà Quý đã bán cho người không quen biết nên không thu hồi được. Vì vậy, HĐXX không xem xét xử lý vật chứng đối với chiếc xe của bà Quý là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

- Tài sản bị cáo Nguyễn Tiến L trộm cắp của ông Đỗ Văn T là 01 con chó đã được định giá là 800.000đ. Quá trình điều tra, ông T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã bán con chó và chi tiêu hết số tiền trên, không thu hồi được tài sản. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày bị cáo đã bán con chó được 800.0000đ nên bị cáo nhất trí bồi thường cho ông T số tiền này. Vì vậy, cần buộc bị cáo pH có trách nhiệm bồi thường cho ông T số tiền 800.000đ là phù hợp.

- Đối với ông Hà Hữu T1 đã mua 01 bình ga của bị cáo và P trộm cắp được với số tiền là 300.000đ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, ông T1 không yêu cầu bị cáo pH bồi thường số tiền này, vì vậy HĐXX không xem xét về trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo và anh P đối với ông Hà Hữu T1.

Đối với anh Chu Mạnh H là người mua con chó của bị cáo L; ông Hà Hữu T1 là người mua chiếc bình ga do bị cáo L và Đỗ Quốc P trộm cắp: Anh H và ông T1 đều không biết các tài sản trên do trộm cắp mà có. Vì vậy không xem xét xử lý đối với anh H và ông T1 là phù hợp.

Đối với người bán trái phép chất ma túy cho L và P tại khu vực ngã tư 27/7, thuộc phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ: cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được người đó là ai, vì vậy chưa có cơ sở xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Điều luật áp dụng:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, Khoản 1 Điều 589, Điều 357, 468 Bộ luật dân sự

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47, Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[2] Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L 15 (mười lăm) tháng tù; Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 16/2023/HSST ngày 15/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; buộc bị cáo L pH chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/6/2023.

[3] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS: 22H9 – 8818 thu giữ của Đỗ Quốc P.

(Vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba)

Xác nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Ba đã giao trả cho chị Nguyễn Thị N 01 bình gas màu xanh theo biên bản giao trả tài sản ngày 10/6/2023 là hợp pháp.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo pH có nghĩa vụ bồi thường cho ông Đỗ Văn T số tiền là 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng chẵn).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người pH thi hành án không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì pH trả lãi đối với số tiền còn pH thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành án xong. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên đương sự nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến L pH chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự trong án hình sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo L, ông T1 có mặt được quyền kháng cáo; Bị hại (ông T, bà N), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh P) vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ