vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 26/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Th 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Th Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44 /2023/HS-ST
Ngày: 26 – 6 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Vương

2. Bà Hoàng Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/HSST ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 07/6/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang Th, sinh năm 1992 tại Tiền Giang; Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, ấp An Th, xã An C, huyện Cái B, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở hiện nay: Khu phố 7, thị trấn Tân K, huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th và bà Đoàn Thị K; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 21/02/2020, Nguyễn Quang Th bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản ra Quyết định số 04/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo chưa chấp hành Quyết định trên. Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 25/02/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Nguyễn Văn Ch , sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ 7, ấp Tân Lập, xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước (có đơn yêu cầu vắng mặt).

Phạm Văn V , sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ 2, ấp 8, xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước (có đơn yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quang Th là người thường xuyên sử dụng ma túy, do cần tiền tiêu xài nên ngày 21/02/2023 Th đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản cụ thể:

Vụ thứ 1: Khoảng 01h00’ ngày 21 tháng 02 năm 2023, Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51U5-6494 đến xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản tìm tài sản của người dân để trộm cắp. Khi đi ngang nhà trọ “Ngọc Trang” do anh Phạm Văn V làm chủ thuộc tổ 1, ấp 8, xã Tân Hiệp, Th phát hiện ngay khu vực phía trước nhà trọ “Ngọc Trang” có nhiều bàn, ghế ở ngoài hiên, không có người trông coi. Th điều khiển xe vào sát nơi để bàn ghế, lấy 03 cái bàn inox để lên xe, dùng dây thun cột chặt rồi chạy về hướng phường Minh Hưng, thị xã Chơn Thành. Khi đến khu vực đất trống trên đường Nguyễn Văn Linh thuộc phường Minh Hưng, Th giấu 03 cái bàn tại đây. Th tiếp tục quay lại với thủ đoạn tương tự chiếm đoạt 21 cái ghế nhựa màu xanh, hiệu Việt Thành rồi chở đến vị trí giấu cùng 03 cái bàn trước đó. Khoảng 06h00 cùng ngày, Th chở số bàn ghế mới chiếm đoạt được đến tiệm thu mua đồ cũ của ông Dương Công T thuộc khu phố 3, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành bán 21 cái ghế với giá là 450.000 đồng và 03 cái bàn với giá 450.000 đồng.

Vụ thứ 2: Khoảng 16h30’ ngày 21/02/2023, Th tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51U5-6494 đến khu vực ấp Tân Lập, xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Văn Ch , thấy cửa không khoá nên Th đi vào nhà ông Ch để tìm tài sản chiếm đoạt. Trong nhà ông Ch Th tìm thấy 16 cái ghế nhựa hiệu Duy Tân, loại ghế BALI 640, màu nâu nhạt nên mang ra để phía sau xe môtô chở đến bán cho ông Dương Công T với giá 500.000 đồng.

Đến 01h00 ngày 25/02/2023, Th tiếp tục điều khiển xe mô tô đi vào xã Tân Hiệp tìm nhà dân để tiếp tục trộm cắp tài sản thì bị lực lượng Công an xã Tân Hiệp tuần tra, phát hiện bắt giữ.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTTTHS ngày 28/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hớn Quản kết luận:

- Giá trị còn lại của 21 cái ghế nhựa dựa cáo 05 sọc, nhãn hiệu: Việt Thành, màu xanh, kích thước (48 x 40 x 86) tại thời điểm trộm cắp tài sản có giá 2.173.500 đồng.

- Giá trị còn lại của 16 cái ghế nhựa hiệu Duy Tân, loại ghế BALI 640, màu nâu nhạt, kích thước (60 x 61 x 88,5) cm tại thời điểm trộm cắp tài sản có giá 4.680.000 đồng.

- Đối với 03 cái bàn bằng kim loại màu trắng, hình chữ nhật, không nhãn hiệu, kích thước (100 x 60 x 76) cm sau khi bị chiếm không thu giữ được nên không có cơ sở định giá.

Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Quang Th về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Th mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận vì hành vi của mình. Bị cáo mong hội đồng xét xử cho mức án nhẹ để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:Do cần tiền tiêu xài, nên trong ngày 21/02/2023 Nguyễn Quang Th đã liên tiếp thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản là bàn Inox và ghế nhựa của anh Phạm Văn V và ông Nguyễn Văn Ch tại xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Xét lời khai nhận tội của Bị cáo là phù hợp với lời khai của người Bị hại, phù hợp với Biên bản xác định hiện trường, Kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt là 21 ghé nhựa nhãn hiệu Việt Thành, màu xanh có giá trị 2.173.500đ; 16 cái ghế nhựa hiệu Duy Tân, màu nâu nhạt có giá trị 4.680.000đ, nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 6.853.500đ của bị cáo Nguyễn Quang Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Xét hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức rõ được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 21/02/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo chưa được đưa đi chấp hành cai nghiện bắt buộc, tuy nhiên bị cáo không sửa đổi mà vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, điều này cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với ông Dương Công T có hành vi mua các tài sản do Nguyễn Quang Th trộm cắp được mang đến bán. Tuy nhiên, khi mua các tài sản ông T không biết đó là tài sản do Th phạm tội mà có nên hành vi của ông T không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Đối với bà Đoàn Thị K, khi Th lấy xe mô tô và giỏ nhựa của bà H đi trộm cắp tài sản thì bà K không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Th nên không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn Ch đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì.

Đối với 02 bàn Inox và 21 ghế nhựa của anh Phạm Văn V bị Th chiếm đoạt không thu hồi được nên anh Vũ yêu cầu bị cáo Th phải bồi thường với số tiền là 3.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Vũ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Văn V .

Về xử lý vật chứng: 01 bàn bằng kim loại, màu trắng, hình chữ nhật là tài sản của anh Phạm Văn V , Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Vũ; 16 ghế nhựa BALI 640 màu nâu, hiệu Duy Tân là tài sản của ông Nguyễn Văn Ch , Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Chỉ; 01 xe moto biển kiểm soát 51U5-6494 và 01 giỏ đan nhựa, quai màu xanh là tài sản của bà Đoàn Thị K, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà K. Việc xử lý vật chứng trên là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không giải quyết lại.

Án phí hình sự sơ thẩm Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Th 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2023.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Quang Th về việc đồng ý bồi thường cho anh Phạm Văn V số tiền là 3.000.000đ (trị giá 02 bàn Inox và 21 ghế nhựa).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bênphải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theomức lãi suất quy định tại Điều357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Quang Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ