- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Việt D phạm tội tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44 /2023/HS-ST Ngày 23 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Úy
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng, Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 12/5/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 26/5/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 16/6/2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Hà Việt D, sinh năm 1976; ĐKNKTT trú: phường D, quận C, Thành phố Hà Nội. Nơi cư trú hiện tại: Thôn M, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Văn H, sinh năm 1942; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; Con: có 01 con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không. Danh bản số 131 lập ngày 05/3/2023 tại Công an huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Nhân thân:
- Bản án số 04/HS-ST ngày 10/03/1995, Tòa án quân sự khu vực 2, Quân khu 3 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
- Bản án số 74/HSST ngày 27/5/1999, Tòa án nhân dân quận C, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”.
- Bản án số 33/HSST ngày 19/04/2002, Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 16/2006/HSST ngày 10/8/2006, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 17/2017/HSST ngày 04/05/2017, Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình xử phạt 04 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Bị can bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2019 đến ngày 06/12/2019, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người Bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Kim A, Luật sư Trịnh Ngọc Bảo K Công ty Luật H, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội;
Địa chỉ: Phố Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/11/2019, Đặng Đình B bàn bạc với Trịnh Quang C tổ chức cho các đối tượng đến đánh bạc dưới hình thức “Xóc đĩa” tại nhà của Đặng Đình B ở Thôn M, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội để thu tiền “phế”. Trịnh Quang C rủ Hà Việt D tham gia gọi các đối tượng đến đánh bạc tại nhà B, D đồng ý. Các bị cáo phân công: Trịnh Quang C chuẩn bị bát, đĩa, làm hồ lỳ, giữ trật tự tại sới bạc và thu tiền phế (từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/1 người/1 ca đánh bạc); B chuẩn bị nước uống, cho các con bạc vay tiền để tham gia đánh bạc; D là người gọi các đối tượng đến đánh bạc tại nhà B. Người xóc cái do những người chơi tự chọn. Tiền phế thu được sẽ chia đều cho B, Trịnh Quang C và D.
Khoảng 13 giờ ngày 27/11/2019, Đặng Đình B, Trịnh Quang C, Hà Việt D tổ chức cho Trần Văn K, Nguyễn Ngọc C, Đặng Đình K, Nguyễn Viết S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đăng K, Phạm Văn T, Lương Văn C, Hoàng Minh T đánh bạc bằng hình thức chơi “Xóc đĩa” được thua bằng tiền tại nhà Đặng Đình B. Hà Việt D gọi cho Phạm Văn T, Nguyễn Văn T đến đánh bạc tại nhà B. Trịnh Quang C lấy bát, đĩa; K cắt 04 quân vị từ quân bài chắn và là người xóc cái cho Đặng Đình B, Trịnh Quang C, Hà Việt D, Lương Văn C, Nguyễn Ngọc C, Đặng Đình K, Trần Mạnh T, Lê Đình C, Nguyễn Đăng K, Nguyễn Văn T, Nguyễn Viết S, Phạm Văn T, Hoàng Minh T chơi. Hà Việt D mang theo số tiền 600.000 đồng, Đặng Đình B cho D vay 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc được thua bằng tiền. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Chương Mỹ phát hiện bắt quả tang, trên người D còn 200.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an.
Tang vật thu giữ: 01 bát men sứ, 01 đĩa men sứ, 04 quân vị, 01 chiếc kéo, 01 lọ nhựa màu trắng, bên ngoài quấn băng dính màu đen; thu giữ số tiền 12.200.000 đồng trên chiếu bạc (trong đó có 1.200.000 đồng tiền phế) và thu giữ số tiền 50.400.000 đồng trên người các bị cáo. Tổng số tiền thu giữ là 62.600.000 đồng.
Các bị cáo thỏa thuận cách thức chơi như sau: Người xóc cái sử dụng 04 quân vị đặt vào đĩa, dùng bát úp lại và xóc lên; quy ước phía bên tay phải người xóc cái là cửa chẵn, phía bên tay trái là cửa lẻ. Sau khi xóc cái, người chơi đặt tiền ở cửa. Sau khi mở bát, nếu trên đĩa cả 04 quân hoặc có 02 quân vị đều cùng một màu thì những người đặt tiền ở cửa chẵn thắng, những người đặt tiền ở cửa lẻ thua; ngược lại nếu có 03 quân vị cùng một màu, 01 quân còn lại khác màu thì những người đặt tiền ở cửa chẵn thua, những người đặt tiền ở cửa lẻ thắng. Người xóc cái thu hết số tiền của người thua; thanh toán trả cho những người thắng số tiền đúng bằng số tiền mà họ đặt cửa và người xóc cái được hưởng hoặc phải chịu thua số tiền chênh lệch giữa hai cửa chẵn, lẻ; mức tiền đặt cửa từng ván chơi không giới hạn.
Ngoài hành vi nêu trên, quá trình điều tra, Đặng Đình B, Trịnh Quang C, Hà Việt D còn khai nhận đã tổ chức cho một số đối tượng đánh bạc tại nhà ở của Đặng Đình B vào các ngày 22, 23, 24, 26/11/2019 thu lợi bất chính khoảng 14.000.000 đồng, B, D mỗi người được hưởng lợi 4.000.000 đồng, Trịnh Quang C được hưởng lợi 6.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo không nhớ số người và số tiền đánh bạc từng lần, từng ngày; cơ quan điều tra đã điều tra nhưng cũng không xác định được, do vậy không có căn cứ để xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Việt D đã khai nhận toàn B hành vi phạm tội của bản thân như nội dung vụ án đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với lời khai của các bị can khác trong vụ án; người liên quan; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Ngày 05/12/2019, căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã ra Quyết định khởi tố bị can số 375.
Quá trình điều tra bị can Hà Việt D có tiền sử bệnh tâm thần. Ngày 13/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chương Mỹ đã trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định để kết luận tình trạng bệnh lý của bị can D thời gian trước, trong và sau khi phạm tội để có căn cứ xử lý.
Ngày 11/5/ 2020, Viện pháp ý tâm thần TW từ chối tiếp nhận đối tượng giám định với lý do: Hà Việt D đang có triệu chứng bệnh lao phổi, có giấy chuyển viện từ bệnh viện y học cổ truyền đến bệnh viện phổi Hà Nội với chuẩn đoán bệnh lao kháng thuốc và đề nghị để D điều trị ổn định bệnh sau đó mới tiếp nhận giảm định. Do đó, ngày 05/06/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Chương Mỹ đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 08, cùng ngày đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 07, tách tài liệu có liên quan đến bị can Hà Việt D để tiếp tục thu thập tài liệu khi có đủ căn cứ thì phục hồi điều tra xử lý sau.
Ngày 30/9/2020, tại Bản án số 118/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã xử phạt đối với các bị cáo Đặng Đình B, Trịnh Quang C phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; các bị cáo Lương Văn C, Trần Văn K, Nguyễn Ngọc C, Đặng Đình K, Trần Mạnh T, Lê Đình C, Nguyễn Đăng K, Nguyễn Văn T, Nguyễn Viết S, Phạm Văn T, Hoàng Minh T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 322 và Điều 321 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng của vụ án.
Ngày 22/12/2022 Viện pháp y tâm thần TW-Bộ y tế đã ra kết luận giám
định pháp y tâm thần số 393/KLGĐ kết luận:
+ Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị can Hà Việt D bị bệnh lao phổi/Rối loạn nhân cách dạng phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số A15.0/F60.1. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
+ Tại thời điểm giám định bị can bị bệnh lao phổi đã ổn định/ Rối loạn nhân cách dạng phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số A15.0/F60.1. Bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Ngày 08/2/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 01 và Quyết định phục hồi điều tra bị can số 05 đối với Hà Việt D.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Chương Mỹ, bị can đã khai nhận hành vi phạm tội; lời khai của bị can phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 34 /CT-VKS-CM ngày 21/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Hà Việt D ra trước Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ về tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 và điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Hà Việt D thay đổi lời khai, không nhận tội đối với tội Tổ chức đánh bạc. Bị cáo cho rằng ngày 27/11/2019, bị cáo chỉ đến nhà Đặng Đình B để ăn cơm sau đấy tham gia đánh bạc với các đối tượng khác. Bị cáo không có bàn bạc trước với B, Trịnh Quang C thể hiện là việc bị cáo vẫn phải nộp tiền phế cho Trịnh Quang C là 200.000 đồng. Bị cáo cũng khai rằng bị cáo không gọi ai đến đánh bạc, không biết Tâm, Tiến là ai. Bị cáo xác nhận có nhận số tiền B, Trịnh Quang C cho là 4.000.000 đồng từ những ngày trước đó nhưng bị cáo cho rằng số tiền này là B, Trịnh Quang C cho bị cáo để chăm sóc con. Bị cáo nhận tội đối với tội Đánh bạc như nội dung Cáo trạng.
Người Bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm tranh luận xác định bị cáo Hà Việt D không được bàn bạc từ đầu với Đặng Đình B và Trịnh Quang C mà do Trịnh Quang C nói chuyện với D “nếu có khách muốn đánh bạc thì bảo đến nhà B” như vậy, bị cáo Hà Việt D không có ý định tổ chức sới bạc mà do B và C lôi kéo, lợi dụng mối quan hệ rộng ngoài xã hội của D để “thu hút” các con bạc. Người Bào chữa cũng cho rằng không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh C, B, D đã bàn bạc sẽ tổ chức đánh bạc vào ngày 27/11/2019 ngoài lời khai của ba người này. Ngày 27/11/2019, bị cáo Hà Việt D không phải là người trực tiếp rủ rê, lôi kéo các đối tượng khác đến để chơi bạc các đối tượng tham gia đánh bạc đã tập trung tại nhà Đặng Văn B từ trước để ăn cơm, uống rượu. Các đối tượng còn lại đều khai tự sang nhà B chơi hoặc mua thuốc lá mà không phải do D gọi đến. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Chương Mỹ không tiến hành xác minh cuộc gọi trong máy điện thoại của bị cáo Hà Việt D tại thời điểm phạm tội là chưa đảm bảo tính khách quan. Bản Cáo trạng của VKSND huyện Chương Mỹ kết luận: “Ngày 27/11/2019, Đặng Đình B, Trịnh Quang C, Hà Việt D đã bàn bạc, thống nhất tổ chức đành bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa ăn tiền tại nhà B...” là chưa phù hợp. Vì vậy, Hà Việt D vào ngày 27/11/2019 không phải là cố ý tổ chức sới bạc cho các con bạc; chưa đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Hà Việt D cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử: - Áp dụng Điều 13 và Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021, tuyên bị cáo không có tội đối với tội danh “Tổ chức đánh bạc”.
Về tội “Đánh bạc”, trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hà Việt D đều thừa nhận hành vi “Đánh bạc” của mình. Bị cáo Hà Việt D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có thân nhân là người có công, bị cáo mắc chứng rối loạn nhân cách dạng phân liệt theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số A15.0/F60.1. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại định tại điểm p, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Hà Việt D là đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo tuân theo pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa, luận tội, tranh luận xác định quá trình tố tụng bị cáo không bị ép cung, nhục hình, bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo phù hợp với những lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án. Quá trình tiến hành tố tụng bị cáo không có khiếu nại, kiến nghị gì đối với Quyết định khởi tố, Kết luận điều tra, Cáo trạng, quyết định tố tụng khác. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo Hà Việt D đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 và điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hà Việt D từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hà Việt D từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Đánh bạc; áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 42 tháng đến 51 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Bản án số 118/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã giải quyết, không đề xuất xử lý vật chứng trong vụ án này
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, bị cáo Hà Việt D, người bào chữa đề nghị triệu tập những người liên quan và Điều tra viên tiến hành tố tụng trong vụ án đến phiên tòa để đối chất. Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xác định quá trình điều tra các lời khai của bị cáo và những đồng phạm khác trong vụ án không có sự mâu thuẫn, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; căn cứ Điều 296, Điều 305 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu của bị cáo, người bào chữa.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Hà Việt D nhận thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lới khai của các đối tượng khác theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với tội Tổ chức đánh bạc, bị cáo Hà Việt D thay đổi lời khai không nhận tội. Bị cáo cho rằng ngày 27/11/2019, bị cáo chỉ đến nhà Đặng Đình B để ăn cơm sau đấy tham gia đánh bạc với các đối tượng khác. Bị cáo không có bàn bạc trước với B, Trịnh Quang C thể hiện là việc bị cáo vẫn phải nộp tiền phế cho C là 200.000 đồng. Bị cáo không gọi người đến đánh bạc.
Người bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm xác định bị cáo Hà Việt D không có ý định tổ chức sới bạc mà do B và Trịnh Quang C lôi kéo, lợi dụng mối quan hệ rộng ngoài xã hội của D để “thu hút” các con bạc. Ngày 27/11/2019, bị cáo Hà Việt D không phải là người trực tiếp rủ rê, lôi kéo các đối tượng khác đến để chơi bạc, không phải là cố ý tổ chức đánh bạc cho các con bạc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 13 và Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên bị cáo không có tội đối với tội “Tổ chức đánh bạc”.
Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, ý kiến tranh luận của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, ý kiến trình bày của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa xác định: các lời khai của Đặng Đình B, Trịnh Quang C phù hợp với lời khai của bị cáo Hà Việt D về việc B, Trịnh Quang C có bàn bạc với D về việc tổ chức đánh bạc tại nhà B, Trịnh Quang C là người thu tiền “phế”, làm hồ lỳ giam tiền của các con bạc, D có vai trò gọi người đến đánh bạc tại nhà B. Ngoài ra, lời khai của các đối tượng Trần Văn K, Đặng Đình K (em trai ruột của Đặng Đình B), Trần Mạnh T, Lê Đình C, Nguyễn Đăng K (là hàng xóm của B), Nguyễn Văn T tham gia đánh bạc ngày 27/11/2019 tại nhà B thể hiện Trần Văn K xác định người tổ chức đánh bạc là B, Trịnh Quang C và Hà Việt D; Đặng Đình K xác định người tổ chức đánh bạc là B, Trịnh Quang C và D; Trần Mạnh T xác định B là chủ nhà tổ chức đánh bạc, còn Trịnh Quang C là thu “phế”, làm hồ lì, D tạo thế, tạo tiếng để lôi kéo các con bạc khác đến nhà B để đánh bạc; Lê Đình C xác định Trịnh Quang C và D đã gọi C đến nhà B để đánh bạc chiều ngày 27/11/2019; Nguyễn Đăng K xác nhận vai trò của D trong việc tổ chức đánh bạc là D là người gọi người thu hút mọi người đến chơi; Nguyễn Văn T xác định D gọi điện cho T đến đánh bạc tại nhà B ngày 27/11/2019.
Quá trình điều tra, bị cáo D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhận lời từ Trịnh Quang C gọi người đến đánh bạc. D khai nhận tham gia đánh bạc vẫn nộp tiền “phế” cho Trịnh Quang C để thu hút những người chơi bạc khác. Đặng Đình B, Trịnh Quang C, Hà Việt D còn khai nhận đã tổ chức cho một số đối tượng đánh bạc tại nhà ở của Đặng Đình B vào các ngày 22, 23, 24, 26/11/2019 thu lợi bất chính khoảng 14.000.000 đồng, B, D mỗi người được hưởng lợi 4.000.000 đồng, Trịnh Quang C được hưởng lợi 6.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo không nhớ số người và số tiền đánh bạc từng lần, từng ngày; cơ quan điều tra đã điều tra nhưng cũng không xác định được, do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 13 giờ đến 16 giờ ngày 27/11/2019, tại nhà ở của bị can Đặng Đình B ở thôn V, xã T, huyện Chương Mỹ, bị cáo Hà Việt D cùng với Đặng Đình B và Trịnh Quang C đã bàn bạc tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa nhằm thu lời bất chính, D có vai trò gọi người đến đánh bạc tại nhà B. Hà Việt D cũng tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền cùng 13 đối tượng khác. Khi đánh bạc D sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là: 62.600.000đ (Sáu hai triệu sáu trăm nghìn đồng ).
Hành vi tổ chức cho 11 bị cáo khác đánh bạc với số tiền 62.600.000 đồng của Hà Việt D là trái phép, đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” với các tình tiết “Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên” và “Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên” đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 BLHS. Hành vi sử dụng tổng cộng 62.600.000 đồng để đánh bạc của Hà Việt D và 13 đối tượng khác đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị can Hà Việt D có tiền sử bệnh tâm thần. Ngày 22/12/2022 Viện pháp y tâm thần TW-Bộ y tế đã ra kết luận giám định pháp y tâm thần số 393/KLGĐ kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị can Hà Việt D bị bệnh lao phổi/Rối loạn nhân cách dạng phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số A15.0/F60.1. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố đối với bị cáo Hà Việt D về các tội danh trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Ý kiến của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa về việc hành vi của bị cáo không cấu thành tội Tổ chức đánh bạc không được chấp nhận.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tổ chức đánh bạc và đánh bạc trái phép được thua bằng tiền xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm, phù hợp để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Về nhân thân của bị cáo: Năm 1995 bị Tòa án quân sự khu vực 2 – Quân khu 3 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; năm 1999 bị Tòa án Nhân dân quận C, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”; năm 2002 bị Tòa án Nhân dân huyện T, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2006 bị Tòa án Nhân dân huyện K, Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2017 bị Tòa án Nhân dân huyện L, Hòa Bình xử phạt 04 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã được xóa án tích.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi đánh bạc nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với tội Đánh bạc.
Hà Việt D có tiền sử bệnh tâm thần, mắc bệnh lao phổi, Rối loạn nhân cách dạng phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số A15.0/F60.1. Hà Việt D có Giấy xác nhận Khuyết tật nặng, dạng Khuyết tật II, IV, V của UBND phường M và được trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật nặng hệ số 1,5 theo Quyết định số 2687/QĐ-UBND ngày 27/7/2015 của Chủ tịch UBND quận C nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo D có bổ đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong vụ án có đồng phạm bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức gọi người đến đánh bạc tại nhà Đặng Đình B, ngày thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc bị bắt quả tang bị cáo gọi 02 đối tượng đến đánh bạc; bị cáo tham gia đánh bạc cùng 13 đối tượng khác với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 62.000.000 đồng (trong đó bị cáo sử dụng số tiền là 2.600.000 đồng). Hội đồng xét xử xác định bị cáo bị xét xử trong cùng một lần về tội Tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 và tội Đánh bạc theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự đều là tội nghiêm trọng, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Về nhân thân, bị cáo có 05 Bản án bị xử phạt tù về các tội chiếm đoạt. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bản thân bị cáo mắc bệnh Tâm thần phân liệt rối loạn nhân cách, bị bệnh lao phổi, viêm gan, viêm phổi, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đối với tội Đánh bạc, tạo cơ hội cho bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định không áp dung hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đã được giải quyết tại Bản án số 118/2020/HS-ST ngày 30/9/2020của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hà Việt D phạm tội tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, Điều 38, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hà Việt D 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”;
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, Điều 38, điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hà Việt D 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Đánh bạc”;
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hà Việt D chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/11/2019 đến ngày 06/12/2019.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Chi cục THA dân sự Chương Mỹ - Bị cáo; - Lưu HS, VP | TM. Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quang Hiểu |