vanban.org

Bản án 44/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 31/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 08/5/2023 (Ngày tám Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn T bị truy tố về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 44/2023/HS-ST

Ngày: 31/08/2023

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Ngọc Liêm; Bà Phan Thị Nga. - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên. Trong ngày 31 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2023/TLST- HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo: Đặng Văn T, sinh năm 1987; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Tiền án: 01 lần. Ngày 15/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 19/12/2020, nhưng chưa được xóa án tích, đến ngày 23/12/2020 có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 1.000.000 đồng, nên ngày 23/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2021 và nộp xong án phí; Tiền sự: không. Nhân thân: Từ nhỏ sống chung cha mẹ, không được đi học. Ngày 14/01/2009, bị Ủy ban nhân dân tỉnh A đưa vào cơ sở giáo dục B, tỉnh Trà Vinh thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/12/2010. Bị tạm giữ ngày 08/5/2023, chuyển tạm giam ngày 11/5/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị hại: - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1963; nơi cư trú: số B T, phường H, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt; - Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm 1962; nơi cư trú: số B T, phường H, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: - Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1966; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt; - Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt. Người làm chứng: - Ông Lê Văn H1, sinh năm 1971; - Ông Trần Văn H2, sinh năm 1965; + Bà Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1983; + Bà Trần Thị Hữu H3, sinh năm 1970.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do biết nhà của Nguyễn Văn T2 ngụ cùng ấp B, xã B, huyện C không người trông giữ, nên Đặng Văn T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Khoảng 20 giờ ngày 05/3/2023, T đến cạy cửa nhà sau của T2 vào bên trong lấy trộm 01 ti vi nhãn hiệu Panasonic, 01 bộ lư bằng đồng rồi đem hết ra bên ngoài để. Sau đó, T đem bộ lư đi cất giấu ở bụi cây gần đó, khoảng 10 giờ ngày 07/3/2023, T đi đến khu vực nhà sau của T2 để lấy ti vi mang đi nhưng do có người ở xóm nên không mang đi được. Khi này, T nhìn thấy cây thang bằng sắt của T2 để cạnh hàng rào, nên lấy trộm đem bán cho Phạm Văn Q được 200.000 đồng. Đến ngày 08/3/2023, Nguyễn Thị Hồng N1 (cháu của T2) phát hiện tài sản trong nhà T2 bị

mất trộm nên cho T2 biết và trình báo Công an xã B. Riêng, T biết sự việc bị phát hiện nên ra đầu thú. Vật chứng: 01 bộ lư bằng đồng nặng 15kg (gồm 02 chân đèn và 01 mình lư); 01 ti vi hiệu Panasonic màu đen; 01 cây thang bằng sắt (dài 6m, rộng 0,3m); 01 cây quạt đứng hiệu Senko, loại DCN 108 và 01 cây quạt đứng hiệu Senko, loại DTS 107, hiện đã trao trả cho Nguyễn Văn T2. Theo Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG.TTHS ngày 27/4/2023 và số 41/KL-HĐĐG.TTHS ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C: - 01 bộ lư bằng đồng nặng 15kg, gồm 02 chân đèn nặng 6,4kg, 01 mình lư nặng 8,6kg, trị giá 4.500.000đồng. - 01 bình hoa bằng đồng nặng 2,5kg, cao 30cm, rộng 13,5cm, trị giá 1.500.000đồng. - 01 cây thang bằng sắt dài 6m, rộng 0,3m, trị giá 600.000đồng. - 01 ti vi hiệu Panasonic màu đen, màn hình phẳng 32 inch, loại TX- 32LX80V, trị giá 1.500.000đồng. - 01 cây quạt đứng hiệu Senko, loại DCN 108, trị giá 170.000đồng. - 01 cây quạt đứng hiệu Senko, loại DTS 107, trị giá 160.000đồng. Tổng giá trị tài sản 8.430.000đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Văn T về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 03 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình

điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện chiếm đoạt tài sản người bị hại. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Đặng Văn T đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, đã thực hiện lén lút chiếm đoạt tài sản, 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Diệu H (vợ của T2), trong đó 01 lần trộm cắp 01 bộ lư bằng đồng trị giá 4.500.000đồng và 01 ti vi hiệu Panasonic trị giá 1.500.000đồng; 01 lần trộm cắp cây thang bằng sắt trị giá 600.000đồng. Tổng trị giá tài sản 6.600.000đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng về hành vi của bị cáo nhận thấy: [3.1] Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Để sở hữu được tài sản, người lao động phải trải qua quá trình lao động vất vả mới tạo lập được. Cho nên, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc là hình phạt. [3.2] Bị cáo đang ở độ tuổi lao động, lẽ ra, phải rèn luyện bản thân thành một công dân có ích, tích cực lao động để tạo lập tài sản chính đáng cho bản thân nhưng chỉ vì hám lợi, lười lao động, muốn nhanh chóng có được tài sản mà không phải tốn công sức lao động nhiều nên bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; gây tâm lí hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến cuộc sống, tâm lí của người dân, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. [4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đặng Văn T đã 02 lần thực hiện trộm cắp tài sản mỗi lần bị cáo thực hiện vào các thời điểm khác nhau cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm

g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. [4.2] Trong quá trình điều tra bị cáo đã đầu thú và tại phiên tòa hôm nay đã xác định được: bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt; [5] Về hình phạt bổ sung, do bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Diệu H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. [7] các hành vi khác [7.1] Nguyễn Văn T2, khai bị mất 01 bình hoa bằng đồng, 02 cây quạt đứng để trong nhà bị lấy đem ra bên ngoài nhà trước, nhưng T không thừa nhận lấy trộm, ngoài lời khai của T2, không có chứng cứ khác, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. [7.2] Phạm Văn Q, mua cây thang do T bán, nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý. [7.3] Huỳnh Thị M, do nhận thức pháp luật có phần hạn chế, được Trần Thị Hữu H3 cho biết T2 bị mất bộ lư đồng, nghi vấn T lấy trộm và dặn nếu T có bán thì mua giữ dùm cho T2, nên M đồng ý; việc M mua bộ lư không nhằm mục đích chiếm đoạt, hưởng lợi, thực tế đã giao trả cho T2 ngay ngày sau, nên Cơ quan điều tra không xử lý. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 08/5/2023 (Ngày tám tháng năm năm hai nghìn không trăm hai mươi ba). 2. Về dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Diệu H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. 3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị

cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ