- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Quốc A phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày: 06/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Đoàn Thị Ngọc Hân.
2/ Ông Nguyễn Hoàng Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Ngà – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Đoàn Quốc A, sinh năm 1982, tại tỉnh Bến Tre; Nơi thường trú: Đường X, Khu phố Y, phường A, TP. B, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Đoàn Văn Đ và bà Lưu Thị Thanh T; Bị cáo chưa có vợ và con.
- Tiền án: 01.
+ Năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Châu Bình thuộc Cục C10 - Bộ Công an.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Năm 1995, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ra Quyết định đưa thiếu niên phạm pháp vào Trường phổ thông Công Nông nghiệp thuộc Bộ Nội vụ, thời gian 24 tháng do có hành vi trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, quậy phá gia đình, gây rối trật tự công cộng, gia đình làm đơn gởi cho Trường để giáo dục.
+ Năm 2001, bị Tòa án nhân dân Quận U, Thành phố H xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Năm 2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Năm 2003, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
+ Năm 2020, bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã nộp phạt xong).
Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Châu Bình thuộc Cục C10- Bộ Công an (theo biên bản ngày 14/3/2023 của Nhà tạm giữ Công an TP. B, tỉnh Bến Tre v/v tiếp nhận người bị kết án tù đến Nhà tạm giữ thi hành án phạt tù). (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
Nguyễn Hiếu Đ1, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: 140 ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Đinh Phước H, sinh năm 1975;
Nơi thường trú: đường N, phường A, TP. B, tỉnh Bến Tre;
Nơi ở hiện tại: 564/2, ấp P1, xã P2, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
2. Bùi Thị Bích T, sinh năm 1999;
Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 08/3/2023, Đoàn Quốc A điều khiển xe mô tô biển số 71H1 - 023.39 của ông Đinh Phước H, SN: 1975, hiện ngụ ấp P1, xã P2, huyện C, tỉnh Bến Tre lưu thông trên đường Trần Văn Ơn, khi đến tiệm tạp hoá Z của ông Nguyễn Hiếu Đ1 thuộc khu vực ấp T1, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, Quốc A phát hiện phía trước tiệm tạp hoá có để các thùng đồ, không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm mang đi bán, lấy tiền tiêu xài. Quốc A dừng xe môtô, bước đến chỗ để thùng đồ, lấy 01 thùng giấy catton mang ra xe và nhanh chóng tẩu thoát về hướng thành phố B. Đi đến cầu D thuộc phường K, thành phố B, Quốc A kiểm tra bên trong thùng có 01 vỉ sa tế tôm, 02 hũ bơ Tường An, 06 lốc sữa Milo, 02 hộp bánh Chocopie, 02 hộp phô mai, 02 lốc nước ngọt Cocacola loại 6 lon, 06 bịch hạt nêm Ajinomoto loại 454g. Tại đây, Quốc A đã bán số tài sản vừa trộm được cho một người phụ nữ đi đường, không rõ lai lịch với số tiền là 350.000đồng và đã tiêu xài cá nhân hết, tài sản bị lấy trộm không thu hồi được. Sau khi mất trộm ông Đ1 đến công an xã T trình báo và giao nộp đoạn camera đã trích xuất để được giải quyết. Đến 08 giờ ngày 10/3/2023, trong quá trình tuần tra, kiểm soát, công an xã T phát hiện Đoàn Quốc A có đặc điểm giống đối tượng đã trộm cắp tại tiệm tạp hoá Z nên mời về làm việc và Quốc A thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 71H1-023.39, nhãn hiệu Loncin màu nâu, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 743/KL-HĐĐG ngày 23/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận: 01 vỉ Satế tôm (75g/1hủ, 01 vỉ có 06 hủ) giá 54.000đồng; 02 hủ bơ Tường An 80g giá 16.000đồng; 06 lốc sữa milo 180ml giá 180.000đồng; 02 bịch bánh Chocobie 216g giá 40.000đồng; 02 hộp Phômai con bò cười 112g giá 70.000đồng; 02 lốc nước Cocacola loại 06 lon/1lốc giá 96.000đồng; 06 bịch hạt niêm Ajinomoto loại 454g giá 201.000đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 657.000đồng.
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Hiếu Đ1 không yêu cầu bị cáo Đoàn Quốc A bồi thường thiệt hại đối với số tài sản lấy trộm không thu hồi được.
Cáo trạng số: 37/CT-VKSCT ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Đoàn Quốc A về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Quốc A phạm “Tội trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đoàn Quốc A từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HS-ST ngày 02/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Xử lý vật chứng: Trả lại cho ông Đinh Phước H: 01 xe mô tô biển số 71H1-023.39, nhãn hiệu Loncin màu nâu, đã qua sử dụng, do không liên quan đến vụ án.
* Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Phước H trình bày:
Ông là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Loncin biển số 71H1-023.39 do ông mua sử dụng nhưng không có làm thủ tục sang tên. Ông có quan hệ bà con với bị cáo Đoàn Quốc A nên ông có cho bị cáo mượn xe này để đi về nhà bị cáo tại phường A, TP. B, ông không cho bị cáo mượn xe để đi trộm cắp tài sản, nên ông có yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 71H1-023.39.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Bích T vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định tại các điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại và những người làm chứng về đặc điểm tài sản, vị trí, thời gian mà bị cáo chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do động cơ tư lợi bất chính, vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 08/3/2023, khi lưu thông đến tiệm tạp hoá Z của ông Nguyễn Hiếu Đ1 thuộc ấp T1, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, Đoàn Quốc A đã có hành vi lấy trộm một thùng giấy catton bên trong có 01 vỉ sa tế tôm, 02 hũ bơ Tường An, 06 lốc sữa Milo, 02 hộp bánh Chocopie, 02 hộp phô mai, 02 lốc nước ngọt Cocacola loại 6 lon, 06 bịch hạt nêm Ajinomoto loại 454g của ông Nguyễn Hiếu Đ1, tổng giá trị các tài sản là 657.000đồng.
Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý, trông coi tài sản, bị cáo đã tiếp cận, lén lút lấy trộm tài sản và nhanh chóng tẩu thoát nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 657.000đồng. Mặc dù giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000đồng nhưng bản thân bị cáo đã có tiền án, đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đoàn Quốc A đã phạm“Tội trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo có nhân thân rất xấu, sau khi đã bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản, trong thời gian tại ngoại bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, điều này cho thấy bản tính ngoan cố, xem thường pháp luật của bị cáo. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HS-ST ngày 02/02/2023 về “Tội trộm cắp tài sản”. Vì vậy, phải tổng hợp hình phạt của lần xét xử này theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại đối với số tài sản lấy trộm không thu hồi được.
Đối với xe mô tô biển số 71H1-023.39, nhãn hiệu Loncin, màu nâu, là phương tiện bị cáo dùng để di chuyển trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, xác định được chị Bùi Thị Bích T là người đứng tên chủ sở hữu chiếc xe. Qua xác minh, chị T xác định do chị làm kế toán cho một cửa hàng mua bán xe cũ nên chị có đứng tên thay cho chủ cửa hàng những xe máy cũ mà cửa hàng mua, bao gồm xe biển số 71H1-023.39 nhưng xe này đã bán cho khách (không rõ là ai) vào năm 2022, nên chị không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này. Quá trình điều tra, ông Đinh Phước H cũng xác định ông mua xe từ cửa hàng bán xe cũ để sử dụng, không có làm thủ tục sang tên. Xét lời khai của ông H và chị T là phù hợp, nên có cơ sở xác định xe mô tô biển số 71H1-023.39 là tài sản của ông H.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 71H1-023.39, nhãn hiệu Loncin màu nâu, đã qua sử dụng là tài sản của ông Đinh Phước H, qua điều tra đã xác định được việc bị cáo mượn xe để đi lấy trộm tài sản của người khác thì ông H không biết, không nhận lợi ích gì từ việc này, ông có yêu cầu nhận lại tài sản nên trả lại xe cho ông H.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Quốc A phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
[1] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đoàn Quốc A 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 01 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HS-ST ngày 02/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre. Buộc bị cáo Đoàn Quốc A chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2023.
[2] Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại đối với số tài sản lấy trộm không thu hồi được.
[3] Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Xử lý vật chứng: Trả lại cho ông Đinh Phước H: 01 xe mô tô biển số 71H1-023.39, nhãn hiệu Loncin màu nâu, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)
[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đoàn Quốc A có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND T. Bến Tre; - VKSND T. Bến Tre; - Cơ quan THAHS Công an T. Bến Tre; - Sở Tư pháp T. Bến Tre; - VKSND H. Châu Thành; - Chi cục THADS H. Châu Thành; - Công an H. Châu Thành; - Bộ phận HS Công an H. Châu Thành; - UBND P.A, TP.B; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Triều |